Thứ năm, 19/7/2018 | 06:46 GMT+7

Vụ truy tố Công ty An Khang: Nhiều dấu hiệu “hình sự hóa” vụ việc dân sự?

LSVNO - “Gặp khó” trong quá trình làm thủ tục đầu tư, dự án Metropolitan đã không thể triển khai đúng tiến độ khiến chủ đầu tư bị khởi tố. Điều đáng nói, nhiều dấu hiệu cho thấy cơ quan chức năng đang hình sự hóa vụ việc dân sự?

Việc khách hàng góp vốn là tự nguyện

Theo hồ sơ vụ việc, dự án Metropolitan còn có tên là dự án Khu trung tâm thương mại và Nhà ở cao cấp tại phường 11, TP. Vũng Tàu do Công ty Cổ phần Địa ốc An Khang (Công ty An Khang) làm chủ đầu tư. Theo đại diện Công ty An Khang cho biết, do nhiều lý do khác nhau, trong đó có thủ tục hành chính mà công ty này đã bất ngờ bị khởi tố?

Cụ thể, sau khi được các cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch dự án, Công ty An Khang đã ký 321 hợp đồng góp vốn với 287 nhà đầu tư, theo phương thức nhà đầu tư góp vốn với Công ty An Khang để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công trình nhà ở trên đất. Đổi lại, nhà đầu tư được giao quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trên đất.

Thế nhưng, theo chia sẻ của Công ty An Khang, do thủ tục hành chính rườm rà, cùng với đó là có nhiều thay đổi về chủ trương, chính sách pháp luật về đầu tư bất động sản (Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đất đai… mới sửa đổi, thay thế), còn các cơ quan quản lý nhà nước lại “lúng túng” trong việc hướng dẫn áp dụng đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thời gian thực hiện dự án.

ak-5b4fd0ce5c3ca

Dự án Khu trung tâm thương mại và Nhà ở cao cấp tại phường 11, TP. Vũng Tàu do Công ty An Khang làm chủ đầu tư.

Do chưa thể triển khai dự án theo đúng tiến độ ban đầu, Công ty An Khang đã bị các khách hàng góp vốn tố cáo về việc chậm thực hiện dự án và yêu cầu được trả lại phần tiền đã góp vốn.

Trong khi Công ty này đang tiến hành thực hiện dự án thì bất ngờ bị Cơ quan CSĐT (C48) Bộ Công an liên tiếp ra các quyết định khởi tố, cụ thể là quyết định số 01/C48(P3) ngày 18/02/2014; quyết định số 01, 02, 03, 04/C48 (P3) ngày 18/02/2014 liên quan vụ việc xảy ra tại Công ty An Khang.

Đến ngày 29/11/2017, VKSND tối cao đã ra Cáo trạng số 87/VKSTC-V5 truy tố ra trước TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu các thành viên góp vốn của Công ty An Khang để xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Trước quan điểm khởi tố hình sự đối với vụ án trên của các cơ quan tố tụng, đại diện Công ty An Khang cho biết: “Việc các cơ quan tố tụng cho rằng Công ty An Khang chưa có quyền sử dụng hợp pháp 43ha đất và chưa đủ điều kiện pháp lý để thực hiện dự án là chưa chính xác. Vì công ty không hề có bất kỳ một hành vi nào gọi là gian dối để chiếm đoạt tiền của khách hàng góp vốn thực hiện dự án".

Theo phía Công ty An Khang, để có đất thực hiện dự án, các thành viên của công ty đã góp vốn bằng quyền sử dụng đất và công ty đã thương lượng đền bù với người dân được tổng diện tích đất gần 28ha. Cụ thể như sau: Đất do các thành viên Hội đồng quản trị góp là: ông Đỗ Đức Chính góp 3,65ha; bà Đỗ Thùy Linh – ông Vương Quốc Hải góp 6,95ha; ông Trần Quý Dương – bà Phạm Thị Thanh Hằng góp 4,49ha.

Đất Công ty An Khang đứng tên quyền sử dụng là 1,62ha; Đất Công ty An Khang ký Hợp đồng góp vốn sau chuyển sang mua bán là 9ha; Đất Công ty An Khang mua đã thanh toán một phần tiền là 2,17ha.

Cùng với đó, ngày 07/7/2008, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có Công văn số 4189/UBND-VP chấp thuận chủ trương đầu tư của Công ty An Khang. Ngày 22/7/2008, Sở Xây dựng có văn bản số 1732/SXD-KTQH thỏa thuận địa điểm dự án Metropolitan gửi Công ty An Khang. Ngày 14/01/2011, UBND TP. Vũng Tàu có quyết định số 278/QĐ-UBND phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 dự án Metropolitan.

Hình sự hóa vụ việc dân sự?

Từ những dẫn chứng trên, Công ty An Khang cho rằng công ty được cấp phép, có đất thật để thực hiện dự án và dự án là có thật chứ không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản của khách hàng như các cơ quan tố tụng đã khởi tố.

Công ty An Khang khẳng định, hợp đồng mà công ty đã ký kết với khách hàng góp vốn là “Hợp đồng góp vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và công trình nhà ở trên đất” chứ không phải là hợp đồng bán đất, bán nhà cho khách hàng. Tại thời điểm ký kết, các khách hàng góp vốn đều hiểu việc công ty đang thực hiện dự án và hoàn toàn tự nguyện góp vốn cùng thực hiện dự án.

Trong hợp đồng công ty cung cấp còn có nội dung nêu rõ: “Mọi tranh chấp giữa các bên phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, trước hết sẽ được thương lượng giải quyết trên tinh thần hợp tác cùng có lợi. Trường hợp không thể tự giải quyết bằng thương lượng thì một trong hai bên có thể đưa tranh chấp ra Tòa án có thẩm quyền tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để giải quyết, chi phí giải quyết tranh chấp do bên có lỗi chịu”.

Từ những phân tích nêu trên, việc Công ty An Khang cho rằng đây chỉ là tranh chấp dân sự giữa công ty và các khách hàng góp vốn chứ không thể là “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như các cơ quan tố tụng đã khởi tố là hoàn toàn có cơ sở.

Hiện đã có 211/287 khách hàng đầu tư đồng ý thanh lý hợp đồng và nhận lại số tiền hơn 282 tỷ đồng. Có 62 khách hàng ký thỏa thuận tiếp tục thực hiện hợp đồng hợp tác đầu tư với công ty để hoàn thiện dự án. Còn lại 14 khách hàng, hiện công ty vẫn chưa liên hệ được để giải quyết với tổng số tiền khoảng 18 tỷ đồng.

Theo đó, công ty sẽ tiến hành lập tài khoản riêng gửi số tiền 18 tỷ vào để đảm bảo cho việc xử lý quyền lợi của 14 nhà đầu tư còn lại khi họ có yêu cầu nhận lại tiền từ Công ty An Khang.

Câu hỏi đặt ra là với vụ việc trên, liệu cơ quan chức năng có đang hình sự hóa vụ việc dân sự, đẩy doanh nghiệp vào nguy cơ đổ vỡ?

Văn Kỳ- Kỳ Anh