Thứ hai, 17/9/2018 | 09:34 GMT+7

Xã Nâm N’Đir (huyện Krông Nô, Đắk Nông): 98 hộ dân bị lừa mất hàng trăm ha đất!

LSVNO – 98 hộ dân xã Nâm N’Đir, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đưa 196,2ha đất liên kết trồng cao su cùng Công ty TNHH MTV Nam Nung. Sau 17 năm, quyền lợi của các hộ dân này không được trả đủ, đồng thời toàn bộ diện tích đất trên đã thuộc về công ty.

Thực hiện theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh.

Do vậy, nhằm quản lý, sử dụng có hiệu quả và bền vững tài nguyên đất đai, vườn cây, đồng thời đảm bảo hài hòa lợi ích bên giao khoán, bên nhận khoán và Nhà nước, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh quốc phòng trên địa bàn. Ngày 24/11/2010, UBND tỉnh Đắk Nông đã ban hành Quyết định số 1865/QĐ-UBND về việc “phê duyệt phương án giao khoán vườn cây cao su của Công ty TNHH MTV Nam Nung”.

1-5b9f120e3bef2

Trong hợp đồng của Công ty Nam Nung với các hộ dân đã ghi rất rõ: “Khi hết thời gian hợp đồng (năm 2028) được Công ty và chính quyền địa phương đề nghị cấp có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ (Sổ đỏ) diện tích giao khoán cho bà con”.

Theo đó, vị trí giao khoán là các khoảnh 1, 2, 3, 4, 7, 8 và 9 tiểu khu 1289 thuộc địa giới hành chính xã Nâm N’Đir, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông với diện tích là 229,68 ha, thời gian giao khoán là 19 năm (từ 9/2010-9/2028). Bên giao khoán là Công ty TNHH MTV Nam Nung (Công ty Nam Nung) còn bên nhận khoán là các hộ đồng bào dân tộc tại chỗ Bon Đăk Prí (xã Nâm N’Đir, huyện Krông Nô).

Theo tìm hiểu, trước đó, tại cuộc họp ngày 25/4/2001 giữa lãnh đạo huyện Krông Nô, Công ty Nam Nung, 98 hộ dân tộc Mnông, Bon Đăk Prí, xã Nâm N’Đir đã đồng ý góp 196,2ha đất tại tiểu khu 1289 vào liên kết trồng cây cao su với Công ty Nam Nung. Danh sách, diện tích của từng hộ dân đưa đất liên kết trồng cao su với Lâm trường Nam Nung (năm 2002) được UBND xã Nam Nung, Lâm trường Nam Nung (ký và đóng dấu) và xác nhận của thôn trưởng.

Tháng 01/2011, Công ty Nam Nung mới có Hợp đồng về việc “giao khoán quản lý, bảo vệ, chăm sóc và khai thác mủ tại vườn cây cao su khai thác của Công ty TNHH MTV Nam Nung theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP”. Nhưng trong số 98 hộ dân này, chỉ có 39 hộ dân được ký hợp đồng với Công ty Nam Nung, 59 hộ còn lại không biết vì lý do gì mà công ty không ký hợp đồng?.

Trong hợp đồng quy định rất rõ về quyền lợi của bên nhận khoán (39 hộ dân): “Được nhận 30% bằng sản phẩm mủ giao khoán khi thu hoạch được hàng ngày theo giá thị trường do đã đầu tư chi phí chăm sóc, quản lý, bảo vệ, PCC vườn cây và khai thác mủ. Được hưởng 100% sản phẩm mủ vượt khoán theo hợp đồng đã ký. Khi hết thời gian hợp đồng (năm 2028) được Công ty và chính quyền địa phương đề nghị cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) diện tích giao khoán cho bà con”.

Cùng thời điểm đó, Công ty Nam Nung cũng đã lập Bản xác nhận về đồng sở hữu đất vườn cây cao su trong thời gian từ 2010-2028 với các hộ dân. Nội dung cam kết nêu: “Công ty Nam Nung, trong thời gian đồng sở hữu không được mang tài sản này để góp vốn liên doanh liên kết, cổ phần hóa hay xử lý tài sản khi bị phá sản. Còn các hộ gia đình, không được phép sang nhượng mua bán với bất kỳ hình thức nào mà chỉ được phép giao quyền thừa kế trong gia đình và dòng họ”.

Đồng thời, sau khi kết thúc thời gian giao khoán Công ty Nam Nung và UBND xã Nâm N’Đir lập thủ tục đề nghị cấp có thẩm quyền tham mưu UBND tỉnh Đắk Nông cấp sổ đỏ quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình.

Theo ông Y-Đên (già làng Bon Đăk Prí, xã Nâm N’Đir) cho biết: “Từ năm 2008 bắt đầu thu hoạch mủ cao su, Công ty Nam Nung không chi trả 30% sản phẩm mủ theo đúng các điều khoản ghi trong hợp đồng. Chỉ đến năm 2011-2015, công ty mới thực hiện chi trả như không đủ cho các hộ dân trên.

Thế nhưng không biết vì sao, ngày 16/9/2004, UBND tỉnh Đắk Nông lại ban hành quyết định số 887/QĐ-UBND về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho Công ty Nam Nung với diện tích 2.693,7ha (trong đó có 196,2ha đất tại tiểu khu 1289 của 98 hộ dân tộc Mnông, Bon Đăk Prí, xã Nâm N’Đir)?.

3-5b9f120e27351

Vườn cây cao su được thu hoạch từ năm 2008 nhưng Công ty Nam Nung không chi trả 30% sản phẩm mủ đủ theo đúng các điều khoản ghi trong hợp đồng.

Phải đến tháng 5/2008, người dân Bon Đăk Prí, xã Nâm N’Đir mới biết Công ty Nam Nung đã được UBND tỉnh Đắk Nông cấp GCNQSDĐ trên phần đất mà cha ông để lại. Mặt khác, khi làm thủ tục để cấp GCNQSDĐ, Công ty Nam Nung không tổ chức họp dân, người dân không hề biết. Kể từ đó, dân chúng tôi gửi Đơn tố cáo Công ty Nam Nung nhưng chưa được giải quyết”.

Căn cứ theo khoản 3, Điều 1 của Quyết định số 1865/QĐ-UBND UBND tỉnh Đắk Nông đã phê duyệt có nêu rất rõ, nghĩa vụ của bên nhận khoán (tức 98 hộ dân) phải “trả lại đất và vườn cây khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật”. Điều này chứng tỏ, đất đang thuộc quyền sở hữu của các hộ dân, khi Nhà nước có thu hồi để sử dụng đất vào mục đích khác thì buộc các hộ dân phải giao nộp diện tích đất đã góp liên kết với Công ty Nam Nung để thực hiện trồng cây cao su?.

Để chứng minh nguồn gốc đất, ông Y Thịnh (nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông) đã có Giấy xác nhận với nội dung: “Nguyên bản nguồn gốc đất đồng bào đưa vào liên kết trồng cây cao su tiểu khu 1289 năm 2002 với Lâm trường Nam Nung là đất của dân Bon Đăk Prí”.

Bên cạnh đó, ông Ma Doan (Bí thư Đảng bộ vùng Nam Nung từ năm 1961-1986) cũng đã xác nhận: “Từ ngày giải phóng năm 1976, dân Bon Đăk Prí chuyển về sinh sống tại vùng đất gần suốt Đăk Ruk, đặt tên là thôn 9, xã Nam Nung (nay gọi là tiểu khu 1289-PV). Đất ở tiểu khu 1289, đã được người dân sử dụng ổn định từ năm 1960, trước sự hình thành Lâm trường Nam Nung hàng chục năm”.

2-5b9f120de6c6d

Một số Bản xác nhận về đồng sở hữu đất vườn cây cao su của Công ty Nam Nung với các hộ dân cũng đã được quy định rõ, nhưng không hiểu sao công ty lại được UBND tỉnh Đắk Nông cấp GCNQSDĐ?.

Làm việc với PV, ông Hà Hữu Thanh (Phó Giám đốc Lâm trường - quyền giám đốc) Công ty TNHH MTV Nam Nung cũng thừa nhận: “Toàn bộ diện tích đất trên là của người dân chứ không phải của công ty, nhưng không hiểu sao lại cấp giấy cho công ty”. Ngoài ra, ông Thanh không cung cấp cho PV bất chứ giấy tờ nào liên quan để làm rõ vụ việc.

Luật sư Việt Nam Online sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc!

Đoàn Vĩnh