Thứ ba, 9/7/2019 | 10:11 GMT+7

Vụ án Tây Hồ Tây: Hàng loạt bất thường ngay tại phiên tòa

LSVNO - Qua 3 ngày xét xử, sau phần tranh luận của luật sư, tòa bước vào nghị án trong thời gian 04 ngày trước khi tuyên án. Dự kiến ngày 10/7/2019 Tòa sẽ tuyên án đối với 8 bị cáo.

>>>Vụ án Tây Hồ Tây: Rất cần các cấp có thẩm quyền xem xét kỹ dấu hiệu bỏ lọt tội phạm

Hiện nay, theo đề nghị của VKSND TP. Hà Nội thì các cá nhân ở cấp xã, HTX, cán bộ địa chính xã phải chịu mức án cao từ 10-14 năm tù; trong khi đó các bị cáo cấp huyện và thành phố thì có mức đề nghị cao nhất chỉ là 42-45 tháng tù giam cho 1 bị cáo Lục Văn Cường, còn tất cả các bị cáo còn lại chỉ ở mức 30-36 tháng tù cho hưởng án treo.

Luật sư đưa ra một loạt bằng chứng

Luật sư Đỗ Anh Thắng (Công ty Luật Asem Việt Nam), người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hữu Khiêm, cho rằng: Do sự vắng mặt của đại diện UBND quận Bắc Từ Liêm nên chưa thể làm rõ được vai trò, trách nhiệm cá nhân những thành viên Hội đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư (HĐ BTHT TĐC) như bà Nguyễn Thị Huệ, bà Liên, bà Hương, ông Thái Minh Tuấn và ông Lê Văn Thư - nguyên Chủ tịch UBND huyện Từ Liêm.

Bởi, các cá nhân này tham gia trực tiếp vào dự án với vai trò thành viên HĐ BTHT TĐC, Chủ tịch UBND huyện là những người đã ký vào các quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất.

1-5d24051ef2311

Luật sư Đỗ Anh Thắng (Công ty luật Asem Việt Nam) tranh tụng trước tòa.

Đồng thời, HĐXX chưa làm rõ được đối tượng thiệt hại là của Công ty TNHH phát triển T.H.T (sau đây gọi tắt là T.H.T) hay Nhà nước: Số tiền thiệt hại cụ thể là bao nhiêu? Bao nhiêu của T.H.T và bao nhiêu của Nhà nước?

Do cách tính áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ chưa bóc tách được rõ xem cái nào các hộ dân được hưởng, cái nào UBND xã được hưởng từ đó chưa xác định được Nhà nước và T.H.T bị thiệt hại là bao nhiêu? Việc cho rằng bồi thường sai làm thiệt hại cho Nhà nước thì tại sao thu hồi được 576 triệu lại giao trả cho T.H.T giữ? Chủ thể bị thiệt hại ở đây là Nhà nước hay T.H.T?

Theo Luật sư Đỗ Anh Thắng thì bị cáo Khiêm bị truy tố với tội danh “Lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ” (Khoản 2 Điều 281 Bộ luật Hình sự 2009) là không phù hợp với thực tế khách quan của hành vi phạm tội. Bởi các lẽ:

Hành vi của bị cáo Khiêm không có dấu hiệu của việc tư lợi được quy định tại Điều 281, BLHS 1999. Bị cáo Khiêm không lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để nhận tiền hay bất cứ lợi ích vật chất nào từ người dân.

VKS cho rằng bị cáo Khiêm đã ký vào Biên bản điều tra xác minh hiện trạng đất, Phiếu xác nhận nguồn gốc đất cho bà Hoàng Thị Tý cho đất bà Phượng và cho rằng đây là họ hàng nhà bị cáo Khiêm.

Tuy nhiên, tại phần xét hỏi tại tòa và tại các lời khai của bị cáo Khiêm tại CQĐT, VKS đều cho thấy ông nội của bị cáo Khiêm và ông nội của bố chồng bà Tý là họ hàng rất xa. Bà Tý chỉ làm dâu bên họ nhà bị cáo Khiêm.

Hơn nữa, tại bút lục số 6782 lời khai của bà Tý xác nhận rằng không có họ hàng với bất kỳ ai trong Tổ công tác, Hội đồng bồi thường. Việc cho đất là do bà Dung - Đội trưởng đội sản xuất số 1 đã hướng dẫn bà và con gái là Lan viết đơn, sau đó bà Lan ký thay chữ bà Tý vào bên cho, đặc biệt Lan là cán bộ Ban kiểm soát của HTX, là người trong cuộc.

Đặc biệt, bị cáo Khiêm không nhận bất kỳ đồng nào từ các gia đình bên cho và nhận nêu trên nên không có dấu hiệu của tội tư lợi.

2-5d240520deabe

Thông báo kết luận buổi làm việc ngày 10/10/2011 của ông Lê Văn Thư.

Đối với việc xác nhận của bị cáo Khiêm vào Giấy xác nhận nguồn gốc đất và ký vào Biên bản kiểm tra xác minh cho bà Oanh (là mẹ vợ bị cáo Khiêm) thì cũng chỉ là thủ tục hành chính như bao hộ dân khác mà thôi. Việc bà Tuyết là con dâu bà Oanh, chị dâu vợ bị cáo Khiêm xin đất của bà Trà – Đội trưởng đội sản xuất số 2 từ năm 2005.

Sau đó tự canh tác, nộp sản lượng, tiền dịch vụ vào HTX (theo sổ theo dõi năm 2007) thì cá nhân bà Oanh cũng không hề biết, bị cáo Khiêm lại càng không, chỉ đến khi xã gọi ra nhận tiền thì bà Tuyết mới nói với bà Oanh (mẹ chồng bà Tuyết đồng thời là mẹ vợ bị cáo Khiêm).

Đồng thời, bà Tuyết chở mẹ chồng là bà Oanh ra UBND xã để ký nhận tiền và ngay sau đó bà Oanh giao lại cho bà Tuyết.

Sau khi có được tiền bồi thường thì bà Tuyết cũng không chia cho bà Oanh hay biếu, cảm ơn bị cáo Khiêm. Ở đây bà Oanh chỉ làm vì để bà Tuyết xin ruộng và nhận tiền. Do vậy, không có căn cứ chứng minh việc bị cáo Khiêm tư lợi.

Đối với hộ bà Nguyễn Thị Kim là thông gia của bà Oanh mẹ vợ bị cáo Khiêm thì cho thấy: Bị cáo Khiêm kết hôn năm 1993 trong khi đó con gái bà Oanh là đã li hôn với chồng là Tiến (con bà Kim) từ năm 1992, trước thời điểm bị cáo Khiêm kết hôn.

Cũng như hộ bà Oanh, Tý, Phượng thì hộ bà Kim cũng không hề chia tiền, biếu, tặng, cho bị cáo Khiêm tiền hay lợi ích vật chất nào khác. Như vậy, không có căn cứ khẳng định bị cáo Khiêm tư lợi ở đây.

Từ đó, Luật sư cho rằng việc VKS truy tố bị cáo Khiêm với tội danh “Lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ” là không đúng với sự thực khách quan, không thỏa mãn mặt khách quan của tội phạm, không cấu thành tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ”.

Đối với tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn…” thì dấu hiệu tư lợi/vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân là dấu hiệu bắt buộc. Nếu không có dấu hiệu này thì sẽ không cấu thành tội phạm này.

Trong lời bào chữa trước tòa, Luật sư bào chữa của bị cáo Lục Văn Cường và Nguyễn Tuấn Anh cho rằng việc cân đối đất là rất công khai và UBND xã Xuân Đỉnh đã báo cáo bằng văn bản số 557/UBND-ĐC ngày 07/10/2010 cho 5 cơ quan là UBND huyện, HĐ BTHT TĐC, Ban BTGPMB huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường và Phòng Quản lí đô thị huyện cũng như công khai tại các cuộc họp giải quyết vướng mắc.

Luật sư cũng đã viện dẫn văn bản chỉ đạo của ông Lê Văn Thư tại cuộc họp ngày 10/10/2011 về việc cân đối đất tại dự án Tây Hồ Tây thể hiện rõ lãnh đạo huyện đã biết việc này. Nếu nói thiếu trách nhiệm thì phải là trách nhiệm của lãnh đạo huyện, các phòng tham mưu của huyện và HĐ BTHT TĐC.

Từ những lập luận đưa ra, các luật sư đề nghị tòa trả hồ sơ để điều tra lại.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố nghe điện thoại khi tranh tụng

Trong khi các luật sư đưa ra những chứng cứ tranh tụng thì Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa là ông Nguyễn Sinh Sáng – Phó phòng PC03 của VKSND TP. Hà Nội không đối đáp lại các lập luận, chứng cứ mà các luật sư đưa ra.

3-5d2405202e5e6

Hình ảnh ông Nguyễn Sinh Sáng – Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại tòa đang nghe điện thoại khi tranh tụng.

Thậm chí liên tục bấm, lướt điện thoại và nghe điện thoại liên hồi để giả bộ phớt lờ không nghe những lời tranh tụng của luật sư. Đây là hành vi coi thường và không tôn trọng HĐXX cũng như các luật sư tham dự phiên tòa. Luật sư đã buộc phải có ý kiến với Chủ tọa để nhắc nhở thái độ của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa.

Từ thực tiễn này, thiết nghĩ cần phải có quy định bắt buộc nghiêm cấm tất cả các thành viên của HĐXX, VKS và các luật sư không được sử dụng điện thoại trong quá trình tranh tụng.

 

Đoàn Vĩnh – Khánh Duy