Chủ nhật, 24/6/2018 | 07:52 GMT+7

Xã Lợi Bác (Lộc Bình, Lạng Sơn): Ai đã “làm thịt” cuốn sổ đỏ?

LSVNO - Ông Ma Trọng Nghĩa (trú tại xã Lợi Bác, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) từ năm 1995, không có tranh chấp kiện tụng gì. Nhưng “bỗng nhiên”, nhiều thửa đất có tổng diện tích hàng nghìn mét vuông tự dưng được sang tên cho người khác mà chủ sử dụng đất không hề hay biết gì. Vậy uẩn khúc của vụ việc này là gì? Ai là người đứng đằng sau thực hiện việc này?

Theo hồ sơ ông Ma Trọng Nghĩa cung cấp, năm 1995 UBND huyện Lộc Bình cấp cho ông GCNQSDĐ có tổng diện tích là 5546 m2 đất (trong đó bao gồm đất lúa, đất màu, đất hoang). Đến năm 2012, ông Nghĩa phát hiện ra việc mẹ ông là bà Trịnh Thị Ban có làm hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất số 130ĐKQSDĐ- HĐTC với nội dung: “Bên A (bên tặng cho) là ông Ma Trọng Nghĩa và vợ Chu Thị Duyên tặng cho bên B (bên nhận tặng cho) là bà Trịnh Thị Ban (bà Ban là mẹ của ông Nghĩa). Trong đó, gồm thửa đất số 135, tờ bản đồ số 68 có diện tích 699 m2; thửa số 32, tờ bản đồ số 84, diện tích 861 m2 và thửa số 51, tờ bản đồ số 84, diện tích 655 m2”.

Tuy nhiên, ông Nghĩa khẳng định, ông không ký vào bản hợp đồng tặng cho nêu trên, ông cho rằng có ai đó đã ký thay tên của ông và vợ ông vào bản hợp đồng này.

cd-5b2eea494ba84

Ông Ma Trọng Nghĩa trao đổi thông tin với PV.

Tại biên bản làm việc với UBND xã Lợi Bác ngày 11/5/2018, bà Duyên khẳng định rằng: “Tại thời điểm thực hiện hợp đồng giao dịch, tôi không được thực hiện hợp đồng, không được ký giao dịch, ai thực hiện hợp đồng tặng cho, tôi không biết”. Cũng tại Biên bản này, bà Trịnh Thị Ban cho rằng: “Về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, tôi trực tiếp đến UBND xã làm hợp đồng giao dịch, lúc làm hợp đồng giao dịch không có mặt ông Nghĩa thực hiện hợp đồng giao dịch, mà trước đó tôi có nhờ cán bộ tỉnh thực hiện dự án cấp đổi GCNQSDĐ làm hộ (người làm hộ là Vi Thị Tuyền). Khi thực hiện hợp đồng giao dịch, tôi ký ghi rõ họ tên vào bên B, còn bên A, tôi nhờ người khác ký hộ nhưng do thời gian đã quá lâu nên tôi không nhớ cụ thể là nhờ ai nữa”. 

Còn đối với ông Vi Văn Như (hiện là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã Lợi Bác), tại thời điểm năm 2012, ông Như là Chủ tịch UBND xã Lợi Bác, người đã ký xác nhận và đóng dấu vào bản hợp đồng tặng cho nêu trên, cho rằng:  “... năm 2012, tại thời điểm ký xác nhận hợp đồng tặng cho của ông Ma Trọng Nghĩa, tất cả các hợp đồng của xã Lợi Bác năm đó thực hiện đại trà theo dự án do cán bộ địa chính tỉnh thực hiện. Do số lượng hợp đồng thực hiện quá nhiều cùng một thời điểm, nên tôi không nắm được các bên có ký trực tiếp hay không, thấy hồ sơ có đầy đủ giấy tờ theo quy định thì tôi xác nhận”.

Do thấy bản hợp đồng tặng cho nêu trên “có vấn đề”, thực hiện một cách không minh bạch, ông Nghĩa đã có đơn gửi đến UBND huyện Lộc Bình đề nghị được xem xét giải quyết. Ngày 04/5/2018, Văn phòng đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ) chi nhánh huyện Lộc Bình có Báo cáo kết quả xem xét trả lời đơn ông Ma Trọng Nghĩa. VPĐKĐĐ cho rằng, hợp đồng tặng cho chưa được các thành phần trong hợp đồng ký đầy đủ vào hợp đồng và chưa ký từng trang của hợp đồng giao dịch theo quy định tại Điều 35, Luật Công chứng năm 2007.

Trên cơ sở đó, Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Lộc Bình kết luận như sau: “Qua kết quả kiểm tra hồ sơ nói trên, hồ sơ được thực hiện cấp giấy chứng nhận theo dự án đo đạc bản đồ địa chính 46 xã, tuy nhiên nội dung hợp đồng chưa đầy đủ theo quy định. Do vậy hồ sơ chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận cho bà Trịnh Thị Ban”.

Theo đó, VPĐKĐĐ kiến nghị, UBND huyện giao cơ quan chuyên môn tham mưu thực hiện thu hồi giấy chứng nhận của bà Trịnh Thị Ban đối với các thửa đất nói trên để thực hiện cấp lại theo quy định; ông Ma Trọng Nghĩa đề nghị UBND huyện giao cơ quan chuyên môn tham mưu, ban hành văn bản trả lời đề nghị của ông Ma Trọng Nghĩa bao gồm hai nội dung trong cùng một văn bản.

Liên quan đến sự việc, ông Nghĩa cho biết: “Năm 2012, không hiểu tại sao trong giấy tờ đất đai chủ sử dụng được đổi từ tên cá nhân tôi là Ma Văn Nghĩa (tức Ma Trọng Nghĩa, cấp năm 1995) sang chủ sử dụng là hộ ông Ma Trọng Nghĩa. Thế nhưng, sau khi được cấp sổ đỏ thì tôi lại không được giữ, mà vợ ông là bà Chu Thị Duyên cất giữ cuốn sổ đỏ đó. Vì tôi và vợ suốt một thời gian dài sống trong cảnh cơm không lành, canh chẳng ngọt và cho đến bây giờ vẫn vậy”. 

Hiện cuốn sổ đỏ của ông Nghĩa được cấp năm 1995, nay đã cấp lại. Đồng thời, một số thửa đất cũng bị tách riêng ra thành cuốn sổ mang tên “hộ” ông Ma Trọng Nghĩa, cụ thể các thửa được tách như sau: thửa 290, diện tích 273 m2; thửa 292, diện tích 1080 m2; thửa 293, diện tích 390 m2; thửa 294, diện tích 230 m2; thửa 306a, diện tích 238m2; thửa 306b, diện tích 554 m2; thửa 307, diện tích 428 m2; thửa 308, diện tích 708 m2.

Ông Phạm Gia Hoan (trú tại khu Phiêng Quăn, thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn), được sự ủy quyền của ông Ma Trọng Nghĩa cho rằng: “Để GCNQSDĐ mang tên chung ông Nghĩa và bà Duyên thì phải qua nhiều khâu thẩm định xét duyệt, liệu có hay không sự tiếp tay của một số cán bộ đã giả mạo tài liệu, chữ ký để có được tấm bìa đỏ này? Tôi đề nghị các cơ quan chức năng huyện Lộc Bình vào cuộc điều tra, xác minh quy trình làm ra cuốn sổ đỏ này”.

Ý kiến của luật sư

Trao đổi với PV Luật sư Việt Nam Online về sự việc trên, Luật sư Đặng Văn Cường (Trưởng Văn phòng luật sư Chính Pháp, Đoàn luật sư TP. Hà Nội) cho hay, đối với sự việc trên, cần có sự vào cuộc của cơ quan có thẩm quyền để xác định hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông Nghĩa, bà Duyên có hay không việc giả mạo chữ ký và làm giả tài liệu. Nếu những cán bộ thẩm định, xét duyệt hồ sơ cấp GCNQSDĐ có hành vi làm giả giấy tờ của cơ quan, tổ chức thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 341 Bộ luật Hình sự về tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, nếu người phạm tội thực hiện hành vi này nhằm mục đích để thực hiện hành vi trái pháp luật. Theo đó người phạm tội có thể bị phạt tiền đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù đến 7 năm tùy vào tính chất, mức độ hành vi vi phạm.

Về hành vi giả mạo chữ ký của người khác, đây là hành vi vi phạm pháp luật và tùy vào từng trường hợp cụ thể mà có thể bị xử lý vi phạm hành chính hay xử lý hình sự. Trường hợp hành vi giả mạo chữ ký của người khác để chiếm đoạt tài sản của ngươì khác thì có thể phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đối với một người có chức vụ, quyền hạn mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn nhằm mục đích vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giả mạo trong công tác,… Trường hợp người thực hiện việc giả chữ ký chỉ là ký thay do thiếu hiểu biết và không nhằm mục đích vụ lợi thì có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mà chỉ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức tiền xử phạt vi phạm hành chính phụ thuộc vào tính chất cũng như mức độ của hành vi vi phạm.

Đồng thời, quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng được quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình. Theo đó tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì vợ chồng có quyền có tài sản riêng. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Việc vợ chồng nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản có giá trị lớn khác thuộc sở hữu riêng vào khối tài sản chung thì phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả hai vợ chồng. Văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. 

Quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của họ nên trong những trường hợp cần chia tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật thì tài sản riêng của ai thuộc về người đó. Nhưng người có tài sản riêng phải chứng minh được tài sản riêng đó là của mình, việc chứng minh có thể được thể hiện bằng sự công nhận của bên kia.

Như vậy, khi một trong hai vợ chồng chưa đồng ý nhập tài sản riêng của mình vào tài sản chung mà một bên tự ý định đoạt, có hành vi hoặc thủ đoạn gian dối để nhập tài sản đó vào tài sản chung vợ chồng thì đó cũng là hành vi vi phạm pháp luật.

Dương Quốc