Thứ tư, 7/6/2017 | 06:53 GMT+7

Di sản phải được chuyển thành tài sản chung mới đúng

LSVNO - Ông Đỗ Văn T và bà Trương Thị L có 04 người con: Đỗ Văn A, Đỗ Văn B, Đỗ Thị H và Đỗ Văn N. Năm 1989 ông T chết, năm 1998 bà L chết (cả hai đều không để lại di chúc).

Ngày 02/11/2006 anh A làm đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại gồm: 109,7m2 đất và tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4 loại 3 có diện tích 60,79m2, một mái chống nóng proximăng diện tích 37,43m2, một nhà bếp loại B diện tích 13,13m2, hiện do anh N và vợ là chị G quản lý, sử dụng từ khi bà L qua đời. Thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của anh A, Tòa án nhân dân (TAND) thành phố B xác định: Đây là vụ án thừa kế theo pháp luật, có hai thời điểm mở thửa kế là thời điểm năm 1989 (ông T chết) và thời điểm năm 1998 (bà L chết). Tính đến ngày 02/11/2006 anh A làm đơn khởi kiện vụ án thì thời hiệu khởi kiện đối với phần di sản ông T để lại đã hết (quá 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế). Thời hiệu khởi kiện đối với di sản của bà L vẫn còn. Do các đồng thừa kế có tranh chấp nên không có căn cứ áp dụng tiểu mục 2.4, mục 2, phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (Nghị quyết số 02), để chia di sản của ông T để lại cho các đồng thừa kế. Phần quyết định của bản án, TAND thành phố B giao quyền quản lý, sử dụng phần di sản của ông T để lại nhưng đã hết thời hiệu khởi kiện cho người đang quản lý, sử dụng là vợ chồng anh N và chị G, đồng thời xác định quyền sở hữu đối với phần di sản đã hết thời hiệu theo Điều 247 Bộ luật Dân sự (BLDS).

Nhiều ý kiến không đồng tình với nhận định và quyết định giải quyết tranh chấp trên của TAND thành phố B và cho rằng, việc giải quyết yêu cầu chia di sản của ông T để lại mà thời hiệu khởi kiện đã hết, trong trường hợp này có thể xem di sản của ông T để lại là tài sản chung của các thừa kế, để từ đó tiến hành phân chia theo yêu cầu của các thừa kế trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành đối với tài sản chung, vì mấy lý do sau:

Một là, thực chất đây là vụ án chia thừa kế theo pháp luật nên bản án, quyết định của tòa án khi giải quyết nội dung đơn phải bảo đảm thỏa mãn yêu cầu chia di sản thừa kế. Ông T chết năm 1989, bà L chết năm 1998 nhưng đều không để lại di chúc, trước đó các anh A, anh B và chị H đã lập gia đình và có nhà ở riêng. Một tập quán khá phổ biến của người dân sống ở vùng nông thôn Việt Nam, đó là, người con trai út sau khi lập gia đình thì không ra ở riêng mà vẫn ở chung nhà của cha mẹ ruột, để chăm sóc bố mẹ khi tuổi già. Trong vụ án này, anh N là con trai út trong gia đình có 04 anh em, các anh chị của anh N đều đã lập gia đình và có nhà ở ổn định, sau khi cưới vợ anh N vẫn ở nhà của cha mẹ ruột và chăm sóc ông bà cho đến cuối đời. Thực tế sau khi bà L qua đời, anh N và chị G đã lo việc mai táng cho người quá cố theo phong tục tập quán tại địa phương, đồng thời tiếp tục quản lý, sử dụng ngôi nhà mà cha mẹ để lại vừa làm nơi ở vừa là nơi thờ cúng. Đến ngày 02/11/2006 anh A có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, tuy đã hết thời hạn là 10 năm theo quy định của pháp luật để các đồng thừa kế yêu cầu chia di sản kể từ thời điểm mở thừa kế (năm 1989) khi ông T mất, nhưng không vì thế mà tòa án không giải quyết yêu cầu chia di sản, nếu dựa vào lý do đã hết thời hiệu khởi kiện để bác yêu cầu chia di sản của ông T cho các đồng thừa kế; trong khi giữa các đồng thừa kế đều thừa nhận đó là di sản của cha ruột họ để lại nhưng chưa chia là không hợp lý, hợp tình, thật sự gây khó cho người dân, giải quyết không triệt để yêu cầu của đương sự một khi họ cần đến sự phán xét của pháp luật.

Hai là, pháp luật về đất đai ở nước ta luôn có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội qua từng giai đoạn lịch sử. Năm 1989 khi ông T chết, vào thời điểm đó, tại điểm a phần I Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế có quy định: “... đất đai thuộc sở hữu toàn dân, quyền sử dụng đất được giao không phải là quyền sở hữu về tài sản của công dân nên không thể trở thành di sản khi công dân chết...”, nhưng khi Luật Đất đai (LĐĐ) năm 1993 ra đời, thì Nhà nước đã cho phép cá nhân có quyền để lại tài sản là quyền sử dụng đất cho người thừa kế, rồi đến LĐĐ năm 2003 và hiện nay LĐĐ năm 2013 quyền để lại thừa kế là quyền sử dụng đất tiếp tục được pháp luật thừa nhận. Trong vụ án này, cho đến trước ngày 02/11/2006 (thời điểm anh A có đơn khởi kiện chia dia sản thừa kế), vợ chồng anh N và chị G là người quản lý, sử dụng ổn định diện tích đất nói trên, không có tranh chấp, đủ điều kiện đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực tiễn xét xử cho thấy, tranh chấp về phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, điều kiện bắt buộc là đương sự phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các giấy tờ được quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 LĐĐ năm 2003. Thời hiệu khởi kiện của dạng tranh chấp này được áp dụng như các tranh chấp về thừa kế. Mặt khác, từ nội dung đơn khởi kiện của anh A cho thấy, tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất là tranh chấp ai có quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thừa kế. Nếu tài sản tồn tại trên đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 LĐĐ năm 2003 thì tòa án giải quyết cả tài sản và quyền sử dụng đất. Nếu tài sản trên đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ được quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 của LĐĐ năm 2003, tòa án chỉ giải quyết tài sản gắn liền với đất khi: i) Đương sự đã có văn bản của UBND có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp nhưng chưa làm xong thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tòa án giải quyết cả tài sản và quyền sử dụng đất. ii) Khi đương sự không có văn bản của UBND có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể xem xét để giao quyền sử dụng đất thì tòa án chỉ giải quyết về tài sản, đồng thời xác định ranh giới, tạm thời giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự. iii) Khi UBND có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là không hợp pháp, tài sản không được phép tồn tại trên đất thì tòa án chỉ giải quyết về tài sản. Giả sử, nếu như anh N và chị G đã làm thủ tục đề nghị và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất nói trên, khi có đơn khởi kiện của anh A, tòa án phải giải quyết theo hướng xem xét tính hợp pháp của việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó cho vợ chồng anh N và chị G, điều này đồng nghĩa với việc một khi phát sinh tranh chấp về quyền đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (tài sản chung hoặc tài sản riêng) mà tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện thì phải giải quyết theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), cụ thể: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.

Ba là, nếu vận dụng Điều 247 BLDS, xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu cho vợ chồng anh N như phán quyết của TAND thành phố B rõ ràng là không ổn, bởi theo quy định tại điều luật này: “1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó”. Kể từ thời điểm mở thừa kế sau khi ông T chết năm 1989 cho đến trước khi anh A có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại, thời gian này là khoảng 17 năm, tuy vợ chồng anh N công khai sử dụng và những người thân trong gia đình không ai phản đối, nhưng để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 BLDS, thì: ... thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản. Hơn nữa, ngôi nhà cấp 4 loại 3 có diện tích 60,79m2, một mái chống nóng proximăng diện tích 37,43m2, một nhà bếp loại B diện tích 13,13m2 là những công trình được xây cất trên diện tích đất 109,7m2, do vậy trong trường hợp này không thể tách biệt giữa động sản với bất động sản, nên việc áp dụng Điều 247 BLDS là không khả thi, không phù hợp với thực tế.

Bốn là, đối chiếu với các tình tiết trong vụ án thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm ông T chết (1989), tất cả những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông T không từ chối hưởng di sản của ông T, họ cũng không thuộc trường hợp những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS. Những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất của ông T được xác định là 05 người. Ông T chết không để lại di chúc, nên phát sinh quan hệ thừa kế theo pháp luật. Từ thời điểm mở thừa kế đã làm phát sinh quan hệ thừa kế theo pháp luật giữa ông T và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông, họ có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do ông để lại. Theo quy định tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02, thì “... hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1…

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung”.

Trong vụ án này, năm 1989 ông T chết, năm 1998 bà L chết, ngày 02/11/2006 anh A có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ mình để lại, như vậy từ thời điểm mở thừa kế chia di sản của ông T để lại tính đến thời điểm phát sinh tranh chấp (02/11/2006) là khoảng 17 năm, trong khi đó hướng dẫn của Nghị quyết số 02 như vừa nêu trên quy định rõ “sau khi kết thúc thời hạn mười năm”- đây là thỏa mãn thứ nhất; trong quảng thời gian đó (sau khi kết thúc thời hạn 10 năm) các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế - dấu hiệu này là thỏa mãn thứ hai; các đồng thừa kế đều thừa nhận đó là di sản của ông T để lại chưa chia - đây là thỏa mãn thứ ba.

Từ 03 dấu hiệu thỏa mãn như vừa nêu trên, theo quan điểm của người viết, trường hợp này đủ điều kiện để coi di sản mà ông T để lại chuyển thành tài sản chung của các thừa kế, nên khi ông A có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thì tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a.3, tiểu mục 2.4, mục 2, phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP.

 Ths. LS Lê Văn Sua