Thứ tư, 12/7/2017 | 07:08 GMT+7

Lê Thị Th có phạm tội mua bán ma túy cùng chồng?

LSVNO - Vấn đề được nhiều người quan tâm và cũng có nhiều ý kiến khác nhau là vai trò của Lê Thị Th có đồng phạm với hành vi của Lê Hoàng Tr hay không?

3-265094-5965674cdf523Một phiên tòa xét xử về tội buôn bán chất ma túy. Ảnh: Internet

 

Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 09/6/2011, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận M bắt quả tang Lê Hoàng Tr tại quán cà phê MrBin ở số 199/2, đường TA06, khu phố 7, phường Thới An, đang tàng trữ 01 đọan ống nhựa hàn kín hai đầu, 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng, 01 xe mô tô biển số 90H1- 4840 và tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là 100.000 đồng. Sau đó Công an quận đến khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Hoàng thì bắt được vợ của Tr là Lê Thị Th đang cầm trên tay 01 gói nylon bên trong có 15 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng để đi tẩu tán nơi khác. Công an quận M tiếp tục khám xét tại nhà ở của Tr và T thu giữ thêm được 01 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng để trong túi quần treo trên gác và 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng để trên nóc tủ trong phòng cùng 04 dao lam và 02 hộp quẹt ga.

Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố kết luận:

- Gói 01: Chất bột màu trắng chứa trong 01 đoạn ống nhựa và 01 gói giấy được niêm phong có 02 dấu vân tay màu đỏ ghi tên Lê Hoàng Tr, chữ ký ghi tên Lê Hoàng Tr và hình dấu Công an phường Thới An, quận M gửi đến giám định là chế phẩm heroin, trọng lượng là 0,1142g.

- Gói 02: Chất bột màu trắng chứa trong 17 đoạn ống nhựa và 02 gói nylon được niêm phong có 04 dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Lê Hoàng Tr, Lê Thị Th và hình dấu Công an phường Thới An, quận M gửi đến giám định là chế phẩm heroin, trọng lượng là 1,7946g.

Theo lời khai của Tr thì người bán ma túy cho Tr có tên là H và N nhưng không biết địa chỉ; Cơ quan điều tra cũng không xác minh được hai đối tượng này nên đã tách để điều tra xử lý sau.

Tr khai nhận đã mua bán ma túy nhiều lần và vợ là Th cũng biết việc mua bán ma túy của mình, Th cũng đã hai lần thấy bị cáo Tr phân ma túy trong phòng ngủ, đồng thời thấy Tr nhiều lần mua bán ma túy nhưng không tham gia.

Lê Thị Th khai không có tham gia mua bán ma túy cùng chồng, lúc đầu có khuyên Tr dừng lại không mua bán ma túy nữa nhưng vì hai vợ chồng nuôi con nhỏ, không có nghề nghiệp lại thấy chồng bán ma túy có thu nhập nuôi sống gia đình nên có nói với Tr là bán ma túy một thời gian ngắn nữa kiếm ít tiền ăn tiêu rồi nghỉ, nhưng đến khi bị bắt thì Tr vẫn chưa dừng. Khi Tr bị bắt và Cơ quan điều tra đang chuẩn bị khám nhà thì Th liền lấy một bịch nylon chứa 16 tép ma túy đi tẩu tán để nhằm làm nhẹ tội cho chồng thì bị bắt quả tang.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận M truy tố Lê Hoàng Tr và Lê Thị Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túytheo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.

Vụ án được đưa ra xét xử ở tòa án quận nhưng hội đồng xét xử phải trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung theo yêu cầu của kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung là để làm rõ các bị cáo mua bán trái phép chất ma túy hay chỉ tàng trữ trái phép chất ma túy? Đồng thời xem xét việc truy tố các bị cáo theo khoản 1 hay khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 vì tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai đã mua bán ma tuý nhiều lần.

Đây là vụ án tuy không phức tạp về việc đánh giá chứng cứ, vì bị cáo bị bắt quả tang, khám nhà cũng thu được một lượng ma túy nhất định. Tuy nhiên, lại có ý kiến khác nhau về xác định tội danh của các bị cáo nên hội đồng xét xử phải trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, hành vi của Lê Hoàng Tr chỉ là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vì Cơ quan điều tra không chứng minh được người bán và người mua ma túy với Tr, mặc dù tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Tr và vợ là Lê Thị Th đều khai Tr mua bán ma túy nhiều lần và trong một thời gian khoảng gần hai tháng. Nhưng chỉ có lời khai của bị cáo thì chưa thể kết tội bị cáo được.

Riêng đối với Lê Thị Th có nhiều ý kiến cho rằng, Th can ngăn chồng đừng mua bán ma túy nữa mà cũng bị ghép vào tội “mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò giúp sức (đồng phạm) thì “oan” cho Th; hành vi can ngăn chồng là hành vi đáng được khuyến khích và khen ngợi sao lại bị kết tội. Tr khai nhận bị nghiện nên đã mua heroin về sử dụng và chia nhỏ bán lại cho người khác. Tr khẳng định vợ không tham gia vào việc buôn bán ma túy. Tại cơ quan điều tra, Th cũng bảo không trực tiếp tham gia vào việc buôn bán. Có lần nhìn thấy chồng phân chia ma túy, Th đã can ngăn. Việc Th định tẩu tán heroin tại nhà là do sợ chồng sẽ bị tội nặng, nên không thể ghép Th vào vai trò đồng phạm (giúp sức) được, cùng lắm thì hành vi của Lê Thị Th cũng chỉ là hành vi che giấu tội phạm.

Hành vi của Lê Hoàng Tr có phải là hành vi mua bán trái phép chất ma túy hay không, Lê Thị Th có đồng phạm với hành vi của chồng hay không, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề sau:

Trước hết, việc đánh giá chứng cứ trong một vụ án ma túy nói chung và đối với vụ án mua bán trái phép ma túy nói riêng, cần chú ý đến đặc trưng đối với loại án này. Rất ít trường hợp cơ quan điều tra bắt được quả tang và sau khi khởi tố vụ án thì bắt được hết những người phạm tội trong cùng vụ án, mà chủ yếu là từ một hành vi phạm tội khác hoặc từ một hành vi phạm tội về ma túy nhỏ mà cơ quan điều tra đấu tranh, khám phá ra những vụ án ma túy rất lớn. Có trường hợp cơ quan điều tra lúc đầu chỉ bắt được bị cáo mang trong người một vài tép heroin, nhưng trong quá trình điều tra đã khám phá ra được cả một đường dây vận chuyển, mua bán chất ma túy xuyên quốc gia.

Đối với vụ án này, lúc đầu Công an quận M chỉ bắt quả tang Lê Hoàng Tr tại quán cà phê MrBin cất giấu 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, 01 gói giấy có chứa chất ma túy, nhưng sau đó khám nhà Tr đã thu được một lượng ma túy đáng kể gồm 15 đoạn ống nhựa có chứa chất ma túy do Lê Thị Th (vợ của Tr) đem tẩu tán. Công an quận M tiếp tục khám xét còn thu giữ thêm được 01 đoạn ống nhựa trong túi quần và 01 gói nylon trên nóc tủ đều chứa chất ma túy. Đây chính là những chứng cứ vật chất để tin hay không tin vào lời khai của vợ chồng Tr. Nếu Tr chỉ có ý định tàng trữ một lượng ma túy bắt được ở trong người và thu được khi khám nhà; Tr và Th cũng chỉ khai Tr mua ma túy về cất giấu để dùng dần, không khai thêm ai mua, bán với Tr, cơ quan điều tra cũng không chứng minh thêm được đồng phạm khác với Tr, không có các tài liệu, chứng cứ khác nữa, thì việc truy tố Tr về tội mua bán trái phép chất ma túy đúng là cần phải xem lại. Tuy nhiên, trong vụ án này, lời khai của Tr và Th không chỉ phù hợp với nhau mà còn phù hợp với các tình tiết khác của vụ án như: trọng lượng chất ma túy thu được của Tr tại địa điểm bắt quả tang và tại nơi ở của vợ chồng Tr; tuy cơ quan điều tra chưa xác định được người bán ma túy cho Tr và người mua ma túy của Tr, nhưng tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Tr cũng đã khai mua của N và của H và bán cho nhiều người nhưng không thể nhớ được họ tên, làm gì, ở đâu. Đây cũng là đặc điểm của các vụ án ma túy, rất ít khi bị cáo khai đúng và khai đầy đủ những người đã mua bán ma túy với mình vì chẳng ai mua bán ma túy lại nói thật tên mình với người mua hay người bán cả. Nếu đánh giá lời khai của Tr, cũng như lời khai của vợ Tr trong vụ án này, khó có thể bác bỏ hay nghi ngờ gì về sự trung thực của nội dung lời khai. Việc Viện kiểm sát truy tố Lê Hoàng Tr về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, theo chúng tôi là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, Viện kiểm sát chỉ truy tố Tr theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là chưa đúng pháp luật, bởi lẽ nếu đã tin vào lời khai của Tr và vợ bị cáo để xác định hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì không có lý do gì lại không tin là Tr đã mua bán ma túy nhiều lần. Tại phiên tòa, khi được hỏi bị cáo mua ma túy của ai và bằng cách nào, thì Tr trả lời, mua của một người có tên là N và một người tên là H không biết lai lịch bằng cách mỗi lần cần thì gọi điện thoại cho N hoặc H, mỗi lần mua là 1.000.000 đồng về phân ra được từ 13 đến 16 “tép”, bán mỗi tép được 100.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu trong người Tr 100.000 đồng, Tr cũng khai đây là tiền mới bán được một tép ma túy cho con nghiện. Với các tình tiết này thì có đủ chứng cứ khẳng định Lê Hoàng Tr không chỉ mua bán ma túy một lần mà là nhiều lần thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm tù, chứ không phải khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Nhưng đây không phải là lý do để Hội đồng xét xử trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, vì Toà án cấp quận, huyện có thẩm quyền xét xử các tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là đến 15 năm tù, và theo quy định tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật. Nếu kết quả xét hỏi, tranh luận Hội đồng xét xử xác định bị cáo Tr phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý thuộc trường hợp “phạm tội nhiều lần” thì vẫn có thể áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập, cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên toà thì khó có thể nghĩ rằng, hành vi của bị cáo Tr chỉ là hành vi “tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Khi bị cáo Lê Hoàng Tr khai mua ma tuý của N và H, chắc chắn Cơ quan điều tra cũng đã điều tra xác minh hai đối tượng này, nhưng không được. Tuy nhiên, không vì lý do Cơ quan điều tra không xác định được người bán và người mua ma tuý với Tr mà cho rằng hành vi của Tr chỉ là hành vi “tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đây cũng không phải là lý do để Hội đồng xét xử trả hồ sơ vụ án để điều ra bổ sung, vì thẩm quyền của Toà án quận có thể chuyển tội danh bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, nếu cho rằng hành vi của Tr chỉ là hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Vấn đề được nhiều người quan tâm và cũng có nhiều ý kiến khác nhau là vai trò của Lê Thị Th có đồng phạm với hành vi của Lê Hoàng Tr hay không?

images852333-1-ma-tuy-596567a260027

Thu giữ các chất ma túy buôn bán trái phép.

Th và Tr là vợ chồng, cùng sống chung một nhà, cùng ăn, cùng ở..., việc họ có cùng mua bán trái phép chất ma túy hay không thì phải căn cứ vào các tình tiết của vụ án. Nếu chỉ căn cứ vào một tình tiết, Th biết chồng mua bán ma túy nên đã can ngăn: “Anh đừng mua bán ma túy nữa” và lời xác nhận của Tr là vợ không tham gia vào việc buôn bán ma túy là đúng thì việc làm của Th đáng được khuyến khích và khen ngợi. Tuy nhiên, các tình tiết khác của vụ án lại không phải như vậy. Th không chỉ nhìn thấy chồng mua bán ma túy một lần mà nhìn thấy nhiều lần và che giấu nhiều lần cho chồng; khi cơ quan điều tra khám nhà Th còn có hành vi tẩu tán ma túy, chưa kể đến việc Th còn sử dụng (tiêu thụ) tiền do chồng mua bán ma túy mà có.

Cần chú ý rằng khái niệm đồng phạm quy định tại Điều 20 Bộ luật Hình sự chỉ quy định: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm, còn quy mô của đồng phạm như thế nào thì tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể; không nhất thiết phải có sự bàn bạc, có sự cổ vũ để giúp sức về tinh thần hay đưa tiền cho chồng mua ma túy mới là đồng phạm. Ngay trong vụ án có tổ chức thì cũng không nhất thiết phải có đầy đủ những đồng phạm như Điều 20 Bộ luật Hình sự (người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức). Tuy nhiên, không thể không có người thực hành. Trong vụ án có đồng phạm, có thể tất cả những người tham gia đều là người thực hành. Vấn đề còn lại cần phải xác định, đó là, trong vụ án này chỉ có vợ chồng Tr thì Lê Thị Th (vợ Tr) là người có vai trò gì? Chắc chắn không phải là người thực hành, vì Th không tham gia cùng chồng vào quá trình mua, bán ma túy; cũng không phải là người tổ chức hay người xúi dục, mà hành vi của Th chỉ có thể là hành vi giúp sức. Hành vi che giấu, tẩu tán ma túy hay tiêu thụ tài sản (tiền) do Tr mua bán ma túy mà có xảy ra liên tục, hết lần này đến lần khác nên không còn dừng lại ở việc che giấu tội phạm mà nó đã trở thành sự giúp sức về tinh thần để Tr tiếp tục mua bán ma túy các lần tiếp theo.

Có thể nói hành vi của Th đã cổ vũ tinh thần cho Tr tiếp tục mua bán ma túy. Hành vi này đồng nghĩa với việc “hứa hẹn trước”. Theo quy định tại  Điều 21 Bộ luật Hình sự thì chỉ coi là che giấu tội phạm trong trường hợp không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Hứa hẹn trước không nhất thiết phải bằng lời nói, mà có nhiều trường hợp chỉ bằng cử chỉ, bằng mối quan hệ trong cuộc sống hàng ngày mà thể hiện việc “hứa hẹn” với người khác. Lý do mà Th đưa ra để lý giải cho hành vi che giấu tội phạm là vì hai vợ chồng nuôi con nhỏ, không có nghề nghiệp lại thấy chồng bán ma túy có thu nhập nuôi sống gia đình nên có nói với Tr là bán ma túy một thời gian ngắn nữa kiếm ít tiền ăn tiêu rồi nghỉ.

Tổng hợp tất cả các tình tiết của vụ án, chúng ta có thể khẳng định hành vi của Lê Thị Th (vợ Tr) là đồng phạm với Tr về tội mua bán trái phép ma túy với vai trò giúp sức. Tuy nhiên, hành vi của Th chỉ là hành vi giúp sức cho Tr, trong hoàn cảnh là vợ Tr, không có nghề nghiệp, Tr lại là một con nghiện nên mặc dù là đồng phạm với Tr về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng cũng có thể xem xét để miễn một phần trách nhiệm hình sự cho Th.

Vũ Hoài An