Thứ năm, 8/6/2017 | 08:45 GMT+7

Nhiều băn khoăn từ vụ giảm án cho vợ bí thư giết người đốt xác

LSVNO - Chiều 15/01/2013, Lê Thị Hường, vợ nguyên bí thư xã Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gọi điện cho vợ chồng ông Nguyễn Chí Hùng - Phạm Ngọc Nga đến nhà riêng của mình tại ấp Liên Sơn, xã Xà Bang, huyện Châu Đức để thanh toán khoản tiền Hường nợ vợ chồng ông Hùng.

Thấy bà Nga bị mệt nên Hường nói bà Nga nằm tạm trong giường nghỉ ngơi rồi nói ông Hùng ra sau vườn lấy trứng gà, chặt buồng chuối đem về nhà cho bà Nga “bồi bổ”.

Trong khi ông Hùng đi ra sau vườn, Hường xuống bếp lấy một dao rựa rồi ra theo. Thấy ông Hùng đang lúi húi nhặt trứng gà, Hường dùng dao rựa chém liên tiếp vào đầu và hai tay ông. Ông Hùng kêu cứu, bà Nga từ trong nhà chạy ra cũng bị Hường chém hai nhát vào đầu. Sau đó quay sang tiếp tục chém nhiều nhát vào đầu ông Hùng đến khi ông Hùng gục hẳn.

Nghe tiếng kêu cứu của vợ chồng ông Hùng, nhiều người dân chạy vào hỗ trợ và đưa hai nạn nhân đi cấp cứu. Theo kết quả giám định thì ông Hùng bị chém 17 nhát, với tỷ lệ thương tật gần 80%, còn bà Nga bị chém hai nhát có tỷ lệ thương tật gần 30%.

tai-xuong-5938abc96ce02

Khám nghiệm hiện trường. Ảnh minh họa

Trong quá trình điều tra Lê Thị Hường còn khai, ngày 14/5/2012 Hường đến nhà bà Dương Thị Thủy Bình Hà là thủ quỹ xã Kim Long, huyện Châu Đức mời sang nhà mình để làm thịt gà ăn. Tại nhà mình, Hường nhờ bà Hà sửa máy bơm, chẳng may bà Hà bất cẩn, bị điện giật chết. Lo sợ bị liên lụy, Hường đã kéo xác bà Hà đến hố rác của nhà và đốt. Khi hốt tro cốt đi đổ, phát hiện bà Hà có lắc tay và vàng nên Hường giấu đi, lúc về quê chồng tảo mộ đã đem đi bán.

Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa chứng minh được việc bà Hà bị Hường đốt xác có phải là một vụ án mạng do Lê Thị Hường gây ra hay không. Bởi lẽ, phần hài cốt của bà Hà đã bị cháy đến mức không thể xác định được cấu trúc xương, nên Viện Khoa học kỹ thuật hình sự không có căn cứ để kết luận.

Với các tình tiết như trên, ngày 6/3/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tuyên án tử hình Lê Thị Hường và bản án hình sự phúc thẩm ngày 8/7/2014 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã y án sơ thẩm.

Ngày 11/7/2014, Lê Thị Hường có đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm án tử hình. Đơn xin ân giảm án tử hình của Lê Thị Hường đang trong thời gian Chủ tịch nước xem xét thì Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 được Quốc hội thông qua.

Đối với vụ đốt xác bà Dương Thị Thủy Bình Hà, do không chứng minh được hành vi giết người của Lê Thị Hường, mặc dù khi xét xử hội đồng xét xử đã đến tận hiện trường để xem xét tại chỗ nhưng cũng không phát hiện được điều gì mới lạ nên ngày 16/12/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phạt Lê Thị Hường 5 năm tù về tội xâm phạm thi thể, mồ mả và trộm cắp tài sản. Có lẽ các cơ quan tiến hành tố tụng tạm bằng lòng với kết quả điều tra, truy tố, xét xử về hành vi đốt xác bà Hà của bị cáo, vì dù sao Lê Thị Hường cũng đã có một bản án tử hình trước đó, nếu có cố điều tra xét xử Hường thêm tội giết bà Hà rồi đốt xác phi tang thì cũng không giải quyết được gì, chỉ kéo dài vụ án. Tuy nhiên, dư luận và nhất là người thân của bà Hà thì vẫn còn ấm ức không thể thỏa mãn với mức hình phạt 5 năm tù của Lê Thị Hường, cho dù bị cáo đã bị kết án tử hình.

Ngày 29/12/2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao căn cứ vào khoản 3 Điều 7, khoản 3 Điều 57 BLHS 2015 và điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội quyết định giảm án cho Lê Thị Hường xuống 20 năm tù.

Sau khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyết định giảm án tử hình cho Lê Thị Hường xuống còn 20 năm tù về tội giết người, báo chí đồng loạt đưa tin: nhờ áp dụng luật mới nên “nữ sát thủ” Lê Thị Hường được giảm án từ tử hình xuống còn 20 năm tù về tội giết người (chưa đạt).Dư luận băn khoăn không chỉ vì việc chuyển hình phạt cho kẻ giết người máu lạnh này mà còn bởi người ta thấy tính chất, mức độ phạm tội của vụ án từng gây rúng động xã hội mà kẻ thủ ác lại chỉ chịu mức án 20 năm tù. Trước tình hình trên, các chuyên gia đã nêu và phân tích tính pháp lý đối với quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Trước hết về thẩm quyền, vụ án đang được Chủ tịch nước xem xét đơn xin ân giảm án tử hình của Lê Thị Hường, sau khi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã có quyết định không kháng nghị và trình Chủ tịch nước đơn xin ân giảm án tử hình đối với Lê Thị Hường thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nữa. Trường hợp này, nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao muốn ra bất cứ quyết định nào đối với Lê Thị Hường thì cũng phải chờ quyết định của Chủ tịch nước.

Về việc áp dụng pháp luật,việc chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định giảm án cho Lê Thị Hường xuống 20 năm tù là căn cứ vào khoản 3 Điều 7, khoản 3 Điều 57 BLHS 2015 và điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội là không phù hợp, bởi lẽ:

Thứ nhất, tháng 3/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tuyên án tử hình với bà Lê Thị Hường và bản án hình sự phúc thẩm ngày 8/7/2014 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên y án sơ thẩm. Ngày 11/7/2014, bà Lê Thị Hường có đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm án tử hình và đang trong thời gian xem xét thì BLHS 2015 và BLTTHS 2015 mới được Quốc hội thông qua.

Thứ hai, bản án hình sự phúc thẩm cũng không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Vụ án đang được Chủ tịch nước xem xét đơn xin ân giảm án tử hình của Lê Thị Hường, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao lại căn cứ vào quy định có lợi cho người phạm tội để ra quyết định giảm án cho bị cáo Hường xuống 20 năm tù là không đúng trình tự.

Thứ ba, căn cứ vào hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm thì Lê Thị Hường không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 7, khoản 3 Điều 40 hay khoản 3 Điều 57 BLHS 2015. Bởi vì các điều luật này chỉ áp dụng đối với người phạm tội khi bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích…

Thứ tư, nếu căn cứ vào quy định của BLHS 2015 thì trường hợp của bà Hường chỉ bị áp dụng hình phạt 20 năm tù. Nhưng BLHS 2015 cũng như BLTTHS 2015 không có quy định người bị kết án tử hình đang được Chủ tịch nước xem xét đơn xin ân giảm thì có được áp dụng không và nếu được thì thủ tục thế nào.

Thứ năm, theo khoản 3 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 thì tiếp tục áp dụng BLHS 1999 và BLTTHS 2003 cho đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015 có hiệu lực thi hành. Cũng theo Nghị quyết 144/2016/QH13, kể từ ngày 1/7/2016 thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 109/2015/QH13 về việc thi hành BLHS; tiếp tục áp dụng khoản 2 Điều 1 và các quy định khác có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết 109/2015/QH13; áp dụng các quy định của BLTTHS 2015 để thi hành các quy định có lợi cho người phạm tội của BLHS 2015 và Nghị quyết 109/2015/QH13.

Như vậy, Lê Thị Hường bị kết án và bản án có hiệu lực pháp luật trước khi BLHS 2015 ban hành nên không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 40 hoặc khoản 3 Điều 57 BLHS 2015. Ở đây chỉ có thể nói trước khi bị thi hành án tử hình thì BLHS và BLTTHS có quy định theo hướng có lợi cho người bị kết án.

Thứ sáu, nếu căn cứ vào khoản 2 Điều 367 BLTTHS 2015 thì Lê Thị Hường cũng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của BLHS 2015. Giả thiết có thuộc trường hợp này thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao cũng chỉ chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho Lê Thị Hường chứ không thể chuyển từ tử hình xuống hình phạt 20 năm tù được.

Thứ bảy, giả thiết sau khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình xuống hình phạt 20 năm tù cho Lê Thị Hường mà Chủ tịch nước lại có quyết định bác đơn xin ân giảm hoặc ân giảm từ tử hình xuống chung thân cho Lê Thị Hường thì giải quyết ra sao?

Ngoài ra, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao cần xem xét, rút lại quyết định chuyển hình phạt từ tử hình xuống còn 20 năm tù đã ký vào ngày 29/12/2016.

Việc giảm án đối với Lê Thị Hường có thể tiến hành theo các bước:

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần trình với Chủ tịch nước xin rút lại tờ trình về việc xét đơn xin ân giảm án tử hình đối với Lê Thị Hường. Khi đó, hồ sơ vụ án trở lại Tòa án nhân dân tối cao.

Do BLHS không có quy định người bị kết án tử hình được giảm ngay xuống 20 năm nên bước một, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định chuyển hình phạt từ tử hình xuống thành tù chung thân cho đúng điểm b khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 109/2015/QH13, để bà Lê Thị Hường trở thành người đang chấp hành tù chung thân, rồi sau đó căn cứ điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 109/2015/QH13 giảm hình phạt cho Lê Thị Hường xuống 20 năm tù về tội giết người và tổng hợp hình phạt với 5 năm tù về tội xâm phạm thi thể, mồ mả và trộm cắp tài sản, buộc Lê Thị Hường phải chấp hành hình phạt chung là 25 năm tù. Việc giảm án cho Lê Thị Hường xuống 20 năm tù về tội giết người chưa đạt theo BLHS 2015 tuy phức tạp nhưng để bảo đảm tính đúng đắn của pháp luật thì rất cần thiết.

Đối với vụ đốt xác bà Hà mà Lê Thị Hường thực hiện, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng tăng nặng đối với Lê Thị Hường đã hết, nhưng thời hạn kháng nghị tái thẩm thì chưa bao giờ hết, nếu phát hiện có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, mà tình tiết mới về vụ án đốt xác cũng không phải là khó tìm nếu tất cả xã hội vào cuộc.

Nhân sự việc này, cũng cần nói thêm là BLHS và BLTTHS vẫn còn khoảng trống liên quan. Đó là chưa có quy định về trường hợp người bị kết án tử hình đã bị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà đã trình Chủ tịch nước xét đơn xin ân giảm án tử hình của người bị kết án thì giải quyết thế nào. Khoảng trống này cần được bổ sung vào BLHS và BLTTHS 2015 khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015.

 Luật sư Đinh Văn Quế