Thứ sáu, 29/9/2017 | 05:54 GMT+7

Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường – Tài năng phát lộ thuở nhi đồng

LSVNO - Tài năng bộc lộ từ thuở tóc để chỏm đào, nên chí lớn cho đường quan lộ về sau của vị Bảng nhãn họ Trịnh thời Lê sơ thật không phải ai cũng có.

Gia thế Trịnh Thiết Trường (? - ?) được Đại Việt Lịch triều đăng khoa lục biên chép lại, theo đó, ông “người làng Đông Lý, huyện An Định, được vua gả công chúa, có đi sứ, làm đến Hữu thị lang, về hưu, được phong Nghi Quốc công, 2 lần thi đậu”.

bia-tien-si-nam-nham-thin-1448-co-khac-ten-trinh-thiet-truong-59cd7c67535ae

Bia tiến sĩ năm Nhâm Thìn (1448) có khắc tên Trịnh Thiết Trường

Đứa trẻ ranh đối văn quan nghìn thạch

Đất An Định, hay huyện Yên Định quê của Bảng nhãn họ Trịnh, được Thanh Hóa quan phong của Thự Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh chức Tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh cho hay là:

Từ xưa quốc thái linh linh,

Tả long hữu hổ kéo quanh chầu về.

Còn chí làm trai của nam nhi đất An Định thì cũng xứng là “nam nhi chi chí”:

Học trò đèn sách hôm mai,

Ngày sau thi đỗ nên trai mới hào.

Làm nên quan thấp quan cao,

Làm nên lõng tía võng đào nghinh ngang.

Sinh ra tại đất học An Định (Yên Định) của tỉnh Thanh (nay thuộc xã Hạnh Phúc, huyện Thọ Xuân) chú bé Trịnh Thiết Trường ngay từ nhỏ đã lộ tư chất thông minh, thậm chí sẵn sàng đối thơ với quan phủ đầu tỉnh, đủ thấy chí lớn của ông phát lộ từ thuở ban sơ rồi. Trong Đại Nam dư địa chí ước biên cho biết: “Có lần nghịch đất nặn voi, lấy bướm làm tai, lấy đỉa làm vòi, lấy cua làm chân. Voi đất đi được như voi thật, mọi người đều lấy làm lạ” (chuyện này được đặt vào giai thoại của rất nhiều vị trạng nước Nam chứ không riêng gì ông Trịnh Thiết Trường). Duyên làm sao, theo lời thuật của Công dư tiệp ký, hôm ấy lại có ông quan phủ đi qua, trông thấy con voi đất đang đi, thì vui lắm, khen ngợi và ra một câu đối:

Ngũ lục đồng vô như nhĩ xảo.

Nghĩa là: Năm, sáu đứa trẻ không ai khéo bằng mày.

Trịnh Thiết Trường tuổi còn nhỏ, nhưng chẳng tỏ ra e sợ quan lớn, hỏi lại:

- Dám hỏi ngài là quan gì?

Quan phủ đáp:

- Ta là đương kim Thái thú ăn lương hai nghìn thạch đó (Tra trong Từ điển chức quan Việt Nam, cũng như Lê triều quan chế, chúng tôi không thấy có chức quan này ở thời Lê sơ. E là có sự nhầm lẫn).

Thiết Trường nghe xong, liền đối lại:

Nhị thiên thạch mạc nhược công.

Nghĩa là: 2.000 thạch không ai bằng ông.

Quan phủ hỏi:

- Làm sao lại thiếu một chữ?

Trịnh Thiết Trường tỉnh bơ, xin quan thưởng cho vế đối của mình. Quan phủ nói:

- Mày đối không chỉnh, thì thưởng cái gì?

Trường liền xin thêm vào một chữ, cả câu đối là:

Nhị thiên thạch mạc nhược công tham.

Nghĩa là: 2.000 thạch không ai tham bằng ông.

Quan phủ thấy đứa trẻ to gan, lớn mật dám đối lại mình như thế, lại chê quan là tham. Nhưng vế đối chỉnh, chứng tỏ đứa bé còn nhỏ mà đã rất thông minh, mẫn tiệp. Quan phủ liền thưởng cho chú bé họ Trịnh một quan tiền. Được thưởng, Trịnh Thiết Trường láu lỉnh liền chữa lại vế đối là:

Nhị thiên thạch mạc nhược công liêm.

Nghĩa là: 2.000 thạch không ai liêm bằng ông.

Quan phủ thấy chú bé lanh lợi ứng biến, khen ngợi không ngớt, lại cho người gọi mẹ Thiết Trường đến mà bảo:

- Em bé này thiên tư tuấn tú, nên nhắc nhở em học tập chăm chỉ, ngày sau tất trúng khôi nguyên.

Ấy nhưng lời dự đoán đầy kỳ vọng của quan phủ năm nào, tiếc là chỉ gần đạt thôi chứ không chỉnh hẳn.

trinh-thiet-truong-ung-doi-voi-quan-59cd7cbca0b3e

Trịnh Thiết Trường ứng đối với quan

Đậu tiến sĩ bỏ lại mộng khôi nguyên

Được lời quan phủ khuyên bảo, người mẹ Thiết Trường lấy làm vui mừng, khuyên con hết sức học tập để đến ngày hiển vinh. Đến khi Trịnh Thiết Trường lớn, sở học đã lan khắp nước.

Khoa thi năm Nhâm Tuất (1442), là khoa thi Hội đầu tiên của nhà Lê sơ dưới thời vua Lê Thái Tông, Trịnh Thiết Trường từ Thanh Hóa lai kinh lên Thăng Long ứng thí hòng giành học vị trạng nguyên như ước mong. Nhưng khoa ấy khi bảng vàng niêm yết, ông lại chỉ đỗ đồng tiến sĩ. Trong Bài ký bia đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), tên tuổi của ông được khắc đề là “Trịnh Thiết Trường: huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên”. Thiết Trường cho người hầu về nhà gọi mẹ ra Thăng Long xem yết bảng. Nhưng khi biết con chỉ đậu đệ tam giáp tiến sĩ đồng xuất thân, mẹ ông không đi mà nói:

- Từ trước đến nay ta vẫn mong mày đem được hai chữ “khôi nguyên” về nhà. Nay mày lại ở dưới người ta, tùy mày muốn làm gì thì làm, nhưng ta nhất định không đi.

Biết ý mẹ không hài lòng, ông bèn xin không lấy danh hiệu Tiến sĩ nữa mà về nhà học thêm. Đại Việt Lịch triều đăng khoa lục chép “Khoa ấy ông không chịu nhận trúng tuyển vì không đỗ được đệ nhất giáp cập đệ, khoa sau đỗ lại đệ nhất giáp cập đệ”; Đại Nam nhất thống chí, phần Thanh Hóa tỉnh chí, mục Nhân vật thì ghi: “giận vì không được cập đệ nên từ chối không nhận”.

Đến khoa thi năm Mậu Thìn (1448) đời vua Lê Nhân Tông, Trịnh Thiết Tường lại lai kinh ứng thí. Khoa này ông đỗ Bảng nhãn, kém một bậc so với Trạng Lợn Nguyễn Nghiêu Tư. Cái chí giành học vị trạng nguyên chưa thỏa, nên như Tam khôi bị lục cho hay, ông thường nói với bạn bè của mình rằng: “Tôi muốn đỗ Đệ nhất giáp cho hiển danh, nếu Tam giáp thời chưa xứng cái học của bình sinh tôi”.

Nhưng đúng như cha ông ta chiêm nghiệm, “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Có muốn cũng chẳng thỏa được. Dù không đạt được sở nguyện như mong muốn của quan phủ và mẹ, nhưng với tài năng và trí lực sẵn có, Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường đã đóng góp nhiều công lao cho nước nhà, kinh qua nhiều việc lớn khác nhau. Ông được vua nhà Lê gả cho công chúa Thụy Tân. Đời làm quan, ông kinh qua nào là Trung sứ xá nhân sung An phủ sứ Thanh Hóa Nam lộ. Lại làm phó sứ đi sứ Trung Hoa. Đến đời vua Thánh Tông làm Thị giảng học sĩ, Hữu thị lang bộ Công, Thượng thư bộ Công. Khi về hưu được phong Nghi Quận công, kể ra cũng là vinh hoa rợp thế, phẩm tước cao sang rồi.

Trần Đình Ba