Thứ tư, 2/8/2017 | 09:01 GMT+7
Điềm báo mệnh đế của vua chúa Việt::

Kỳ 4: Những điềm báo mệnh đế vương của vua Lê Thái Tổ

LSVNO - Là vị vua mở đầu cho triều đại được xem là thịnh trị nhất chế độ phong kiến nước ta: nhà Hậu Lê, vua Lê Thái Tổ ngay từ thuở chưa dựng nghiệp đã nhận được những điềm báo cho mệnh đế vương qua nhiều việc khác nhau.

>>>Kỳ 1: Những điềm báo mệnh đế của vua Lý Thái Tổ

>>>Kỳ 2: Những điềm báo mệnh đế của vua Lý Thái Tổ

>>>Kỳ 3: Chân mệnh đế vương của Lý Thái Tông

ky-44-tuong-dai-le-loi-tai-thanh-pho-thanh-hoa-anh-dinh-ba-59812f906fb51

Tượng đài Lê Lợi tại Thành phố Thanh Hóa. (Ảnh: Đình Ba)

Khi Lê Lợi được sinh ra, hình dung của vua đã khác thường so với chúng dân: “Vua sinh ra, thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có một nốt ruồi, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, nhịp bước như hồ, kẻ thức giả đều biết vua là bậc phi thường” (Trích Đại Việt sử ký toàn thư).

Lam Sơn thực lục cho hay: “Lúc sinh Nhà vua có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương đầy xóm”. Cũng theo sách này, điềm sinh Lê Lợi rất ư đặc biệt: “Nguyên xưa lúc Nhà vua chưa sinh, ở xứ Du Sơn trong làng, dưới cây rừng quế, thuộc thôn sau Như Áng, thường có con hổ đen, thân nhau với người, chưa hề làm hại ai! Đến giờ Tý ngày mồng sáu tháng Tám năm Ất Sửu sinh ra Nhà vua từ đó không thấy con hổ đâu! Người ta cho là chuyện lạ”.

Mộ tổ nhờ sư, Đế vương phát tích

Cổ nhân cho rằng, việc đặt mộ đúng thế đất, hợp phong thủy ảnh hưởng tới vận số đời người, triều đại. Trường hợp nhà Lê Lợi cũng không ngoại lệ, nhờ có được huyệt đế vương, mà sự nghiệp Lê Lợi mới sáng rõ. Lam Sơn thực lục hay cho, khi Lê Lợi làm Phụ đạo làng Khả Lam, có sai người nhà cày ruộng ở xứ Phật Hoàng động Chiêu Nghi, chợt thấy một sư già áo trắng từ thôn Đức Tề đi ra, thở dài mà rằng: Quý hóa thay phiến đất này! Không có ai đáng dặn!

Người nhà thấy thế, chạy về báo vua, Lê Lợi liền đuổi theo tìm hỏi chuyện đó. Có người báo rằng: Sư già đã đi xa rồi.

Nhà vua vội đi theo đến trại Quần Đội, huyện Cổ Lôi (huyện Thọ Xuân ngày nay) thấy một cái thẻ tre, đề chữ rằng: Thiên đức thụ mệnh. Tuế trung tứ thập. Số chi dĩ định, Tích tai vị cập. (Nghĩa là: Đức trời chịu mệnh, Tuổi giữa bốn mươi! Số kia đã định, Chưa tới... tiếc thay!).

Nhà vua thấy chữ đề mừng lắm, vội vàng đi theo. Khi gặp, sư bảo: Tôi họ Trịnh, là sư núi Đá Trắng, từ bên Ai Lao (nước Lào) xuống. Thấy ông khí tượng khác thường tất có thể làm nên việc lớn!

Nhà vua quỳ xuống thưa rằng: Mạch đất ở miền đệ tử tôi sang hèn ra thế nào xin thầy bảo rõ cho?

Nhà sư nói: Xứ Phật Hoàng thuộc động Chiêu Nghi, có một khu đất chừng nửa sào, hình như quả quốc ấn. Phía tả có núi Thái Thất, núi Chí Linh; bên trong có đồi đất Bạn Tiên. Lấy thiên sơn làm án (ở xã An Khoái). Phía trước có nước Long Sơn, bên trong có nước Long Hồ là chỗ xoáy trôn ốc (ở thôn Như Áng). Phía hữu nước vòng quanh tay Hổ. Bên ngoài núi xâu chuỗi hạt trai. Con trai sang không thể nói được. Nhưng con gái phiền có chuyện thất tiết. Tôi sợ con cháu ông về sau, có thể phân cư. Ngôi vua có lúc Trung hưng. Mệnh trời có thể biết vậy. Nếu thầy giỏi biết láng lại, thì trung hưng được năm trăm năm.

Nhà sư nói rồi, nhà vua liền đem đức thân phụ là Lê Khoáng táng vào chỗ ấy. Tới giờ Dần. Đất táng Hoàng khảo Lê Khoáng, được Đại Nam nhất thống chí ghi lại: “Lăng Tuyên tổ nhà Lê: ở xứ Phật Hoàng, động Chiêu Nghi huyện Lương Sơn, nay thuộc huyện Thụy Nguyên (huyện Thiệu Hóa ngày nay - Người dẫn chú)”.

Tích này, trong Đại Việt thông sử viết gọn: “Khi vua làm phụ đạo ở Khả Lam, được hồn sư ông mặc áo trắng hiển hiện chỉ cho ngôi huyệt phát “đế vương” ở động Chiêu Nghi”. Sư ông mặc áo trắng họ Trịnh, được Đại Nam dư địa chí ước biên gọi là Trịnh Bạch, lại có đôi câu đối:

"Sư áo trắng biết trước lòng trời, sớm xua giặc Bắc;

Ngọa long cương cũng theo thế vận, để mở trời Nam"

Ấn báu trời ban, Gươm quý thần tặng

Trong Thiên Nam ngữ lục, có đôi câu có đề cập đến vận làm vua của Lê Lợi, rằng:

"Gươm thiêng đã phó hải tề,

Gửi người tri kỷ đem về giữ cho"

Biểu hiện cho quyền lực của nhà vua không đâu bằng gươm báu, ấn triện. Lê Lợi thuở chưa lên ngôi, đã được trời cho ấn báu và gươm quý, như giao trách nhiệm quản lĩnh nước Nam vậy. Việc còn ghi lại trong Lam Sơn thực lục.

Theo đó, khi ấy Lê Lợi cùng người ở trại Mục Sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài, ở xứ vực Ma viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả, chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ, Lê Lợi tới chơi nhà, thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhân xin lấy, thận liền cho ngay. Khi đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy có chữ “Thuận Thiên”, cùng chữ “Lợi”.

ky-41-le-than-keo-luoi-duoc-thanh-sat-59812f8f4c47a

 

Lê Thận kéo lưới được thanh sắt.

ky-42-thanh-sat-la-lui-guom-de-chu-thuan-thien-59812f8fc1093

Thanh sắt là lưỡi gươm đề chữ Thuận Thiên.

Lại một hôm, Lê Lợi ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài giũa thành hình, mới lạy trời khấn rằng: “Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau! Khấn xong lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, bèn thành ra chuôi gươm”.

Được gươm báu bên mình rồi, thì ngày hôm sau, lại thêm một báu vật nữa đến tay vua: “Hoàng hậu ra vườn hái rau, đến chỗ cây rau có hình bàn chân, bỗng được một quả ấn báu, dài rộng ngay ngắn, một quả ấn khắc mấy chữ lối triện, trên lưng quả ấn khắc đích họ tên vua, nhận kỹ mới rõ. Vua biết là bảo vật của trời ban cho, bèn cúi đầu lạy tạ” (Trích Đại Việt thông sử).

ky-43-le-than-trao-kiem-cho-le-loi-59812f8f92317

 

Lê Thận trao kiếm cho Lê Lợi.

Hai phen thoát chết tấc gang,ghi ơn dầu lão, hồ ly giữa đàng

Trước khi dựng lên nghiệp lớn, Lê Lợi từng nhiều phen thoát chết ngoạn mục. Đầu tiên là việc vị vua tương lai được cứu bởi ông hầu, bà hầu như Nam hải dị nhân liệt truyện ghi lại. Nhằm năm Mậu Tuất (1418), cờ nghĩa dựng lên, Lê Lợi đánh nhau với quân Minh. Trong trận ở Côi huyện, quân Lam Sơn bị thua, tướng sĩ tan chạy cả, chỉ còn độc một mình Lê Lợi tìm đường thoát. Tướng nhà Minh đem quân đuổi theo. Túng thế không biết làm thế nào, may gặp ông lão nhà quê cùng vợ đang tát ruộng cấy mạ, Lê Lợi bèn nhảy ngay xuống ruộng cầm mạ cấy cùng. Một lát quân Minh đuổi đến nơi, thấy người làm ruộng, hỏi thăm rằng:   

- Có thấy ai chạy qua đây không?   

Ông lão làm ruộng đã đoán chắc đó là người lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn, mới trỏ tay về phía trước mặt nói rằng:   

- Tôi vừa thấy một chiến tướng, hớt hải chạy về mé trước kia kìa!

Quân nhà Minh tưởng thực kéo cả đi, nhân thế Lê Lợi thoát được. Sau này, nhớ công cứu giúp của vợ chồng ông bà lão, vua Lê Thái Tổ khi dựng được nghiệp lớn “những khi Thái miếu làm lễ tế, thì có để hai ông bà già ấy vào phối hưởng, tục vẫn gọi là ông hầu bà hầu” (Trích Vũ trung tùy bút).

Lần khác Lê Lợi bị giặc Minh bức bách, phải cùng Lê Liễu chạy đến bên sông Khả Lam, “bỗng thấy một người con gái nằm chết, mình còn mặc chiếc áo trắng, cùng đeo thoa vàng, xuyến vàng. Nhà vua cùng Liễu ngửa mặt lên trời khấn rằng:

- Tôi bị giặc Minh bức bách, xin phù hộ cho tôi thoát nạn này, ngày sau được Thiên hạ, xin lập làm miếu thờ, hễ có cỗ bàn, cúng nàng trước hết!

Đắp mả chưa xong thì giặc xua chó ngao đến. Nhà vua cùng Liễu chạy vào bộng cây đa! Giặc lấy mũi giáo nhọn đâm vào, trúng vào vế bên tả của Liễu, Liễu bốc cát cầm vuốt vào lưỡi giáo, cho khỏi có vết máu. Tự nhiên bỗng thấy con cáo trắng chạy ra! Chó ngao liền đuổi cáo. Giặc không ngờ bèn kéo đi. Nhà vua mới được thoát (đến khi bình định thiên hạ rồi, phong vị thần Áo trắng làm Hoằng hựu Đại vương; phong cho cây đa làm Hộ quốc Đại vương; tới nay dấu tích ấy hãy còn)” (Trích Lam Sơn thực lục).

Theo Vũ trung tùy bút, ghi nhớ công của người con gái xấu số mà vua nghĩ đã hóa cáo giúp mình, nên “vua Lê lấy được thiên hạ rồi mới lập một ngôi đền ở chỗ ấy, sắc phong cho người con gái ấy là Hộ quốc phu nhân. Làng Thanh Liêm cũng thờ thần ấy gọi là Hộ quốc phu nhân, kiêm cả tước phong là đại vương và công chúa”. Thời Lê Trung hưng tượng của Hộ quốc phu nhân, Phạm Đình Hổ cho biết vẫn có mặt tại sân điện ở Thăng Long: “Tượng ấy đầu người, thân hồ ly, dáng rất đẹp, đó là pho tượng thiếu nữ búi tóc cài trâm”.

Vậy là mệnh đế vương của Lê Lợi dù trải qua bao nhiều nguy biến, nhưng vẫn được cứu độ để nghiệp thành, danh toại.

Trần Đình Ba