Thứ bảy, 13/1/2018 | 10:01 GMT+7

Một số vụ án dưới thời vua Tự Đức nhà Nguyễn

LSVNO - Vua Tự Đức là ông vua nổi tiếng thơ hay triều Nguyễn và cũng là ông vua có nhiều giai thoại về vụ án nhất. Đó là vụ án Hồng Bảo, vụ án “Chó cắn hạc vua”, vụ án “Hải tặc”, vụ án Phạm Đăng Tuấn.

Vụ án Hồng Bảo

Nguyễn Phúc Hồng Bảo là con trưởng của vua Thiệu Trị với bà Quý tần Đinh Thị Hạnh. Hồng Bảo do tính tình phóng túng, ít chịu gò bó vào khuôn phép nên thường bị vua cha quở trách. Do đó, tuy là con trưởng nhưng không được nối ngôi vua. Di chiếu của vua Thiệu Trị cũng viết: “Trong các con ta, Hồng Bảo tuy lớn, nhưng vì thứ xuất, ngu độn ít học, chỉ ham chơi, không thể nối nghiệp lớn được. Hoàng tử thứ hai là Hồng Nhậm thông mẫn, ham học, rất giống ta, đáng nối ngôi vua. Hôm qua ta đã phê vào di chiếu để trong long đồng. Các ngươi phải kính noi đó, đừng trái mạng ta!”.

Khi lên ngôi, Phước Tuy công Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (tức vua Tự Đức) đã đối đãi tử tế với Hồng Bảo, chu cấp thêm bổng lộc nhằm bảo đảm cho vị vương gia này có một cuộc sống sung túc và an nhàn. Vì thế, ngoài phần lương bổng được hưởng trước đây, hàng năm, vua Tự Đức còn ban cấp thêm cho Hồng Bảo 500 quan tiền và 500 phương gạo. Vua Tự Đức cũng chăm lo thờ phụng Quý phi Đinh Thị Hạnh, mẹ của Hồng Bảo, như là một cử chỉ để tạo niềm tin và thu phục Hồng Bảo cùng gia quyến ông.

16-36-1317731058-37-cdv-310vuatuduc1-5a59752eb8bf6

Vua Tự Đức. Ảnh minh họa

Tuy nhiên, Hồng Bảo không bao giờ quên được ngai vàng. Vì thế, vị vương gia này vẫn tiếp tục tập hợp bè đảng và tìm cơ hội để mưu phản. Cuối tháng giêng năm 1851, trong dịp tết âm lịch, khi Hồng Bảo đang sửa soạn trốn sang Tân Gia Ba (Singapore) cầu viện người Anh thì bị bắt. Hồng Bảo định tự tử, nhưng những người đầy tớ khuyên can, nên ông quyết định nhờ sự khoan dung của vua Tự Đức. Hồng Bảo bèn mặc áo tang, xõa tóc, ẵm đứa con trưởng khoảng sáu, bảy tuổi, đi đến cung vua khóc lóc thảm thiết. Khi được vào yết kiến, Hồng Bảo thú nhận có ý định trốn ra nước ngoài, nhưng không phải để kêu gọi người ngoại quốc đến gây giặc giã mà chỉ vì nghèo khổ, bị bạn bè và kẻ hầu hạ khinh dễ, xa lánh... nên ông chỉ muốn đi qua Pháp để được sống như một người dân thường. Không chắc vua Tự Đức tin những lời ấy, nhưng cảm động vì thấy anh quỳ dưới chân mình để van xin nên nhà vua vỗ về, hứa sẽ lo cho ông được sung túc, nhận con ông làm con nuôi và còn cho ông một trăm nén bạc và một nén vàng.

Được tha, Hồng Bảo lại tìm cách lật đổ vua Tự Đức. Khi vụ việc bại lộ, Hồng Bảo bị triều đình xử tội lăng trì, nhưng vua Tự Đức đã tha tội chết và đổi thành án chung thân. Triều đình xây mới một ngục thất để giam giữ Hồng Bảo và dự định chuyển ông vào giam ở nơi này nhưng Hồng Bảo không chịu, rồi nhân khi một mình, ông đã dùng vải trải giường để thắt cổ tự vẫn.

Điều này được sách Đại Nam thực lục ghi lại: “Giáp Dần, Tự Đức năm thứ 7 (1854)... An Phong Công là Hồng Bảo mưu khởi nghịch, rồi thắt cổ tự tử ở nơi giam; con trai, con gái Hồng Bảo và người dự mưu là viên đã chết là Tôn Thất Bật đều bị tước bỏ tên trong sổ Tôn nhân, viên bị cách chức là Đào Trí Phú, phải tội lăng trì xử tử; các phạm nhân đều bị tịch thu gia sản và bắt cả thân thuộc”. Hồng Bảo lúc chết cũng bị đổi ra họ Đinh, là họ của mẹ.

Sau vụ án Hồng Bảo không lâu, vua Tự Đức dùng cơm vô ý cắn phải lưỡi, liền lấy đầu đề “răng cắn lưỡi” ra cho đình thần làm thơ. Nguyễn Hàm Ninh, thầy của vua Thiệu Trị, chủ sự Tôn nhân phủ dâng một bài tứ tuyệt:

Sinh ngã chi sơ, nhỉ vị sinh

Nhỉ sinh chi hậu, ngã vi huynh

Nhất đường cọng hưởng trân cam vị

Hà nhẫn tương thương cốt nhục tình.

Dịch thơ:

Ta ra đời trước, chú chưa sinh

Chú phận làm em, ta phận anh

Ngọt bùi sao chẳng cùng san sẻ

Mà nỡ đau thương cốt nhục tình?

Vua Tự Đức xem thơ, thưởng mỗi câu một lạng vàng vì lời thơ hay, nhưng lại phạt một câu một roi vì ý thơ sâu sắc.

Người đời sau cho rằng vua Tự Đức nhổ cỏ nhổ tận gốc, giống Trần Thủ Độ đối với nhà Lý như bắt Hồng Bảo lúc chết cũng bị đổi ra họ Đinh, là họ của mẹ; giết hết con cái và bắt hết thân thuộc. Tuy nhiên, đọc kỹ tình tiết vụ án ta sẽ thấy, nếu vua Tự Đức không cứng rắn, bắt giam chung thân Hồng Bảo thì Hồng Bảo vẫn sẽ âm mưu đoạt ngôi nhiều lần nữa. Chẳng hạn, năm Tự Đức thứ 19, Bính Dần (1866), ba anh em Đoàn Trưng, Đoàn Hữu Ái, Đoàn Tư Trực cùng một số võ quan, binh sĩ và dân chúng đã nổi dậy, mưu lập con trưởng của Hồng Bảo là Đinh Đạo (tức Ưng Đạo) lên làm vua. Cuộc mưu phản này chính là vụ “giặc chày vôi”. Sau khi thất bại, cả gia đình Hồng Bảo gồm 8 người là Đinh Đạo, Đinh Tự, Đinh Chuyên, Đinh Tương (đều là con Hồng Bảo), Thị Thụy (vợ Hồng Bảo) và hai đứa con Đinh Đạo (một trai, một gái) đều bị xử giảo (treo cổ). Như vậy, có thể nói, mặc dù vua Tự Đức đã tha cho các con của Hồng Bảo khi vị vương gia này đã tự tử chết nhưng các con của Hồng Bảo vẫn nối nghiệp cha để mưu phản. Điều này khiến vua Tự Đức phải nhẫn tâm triệt hạ loạn đảng để tiệt đi mối nguy của triều đình.

Vụ án “Chó cắn hạc vua”

Vua nhà Thanh (Trung Quốc) có biếu tặng vua Tự Đức một con hạc thuộc loại hiếm có. Vua Tự Đức quý lắm, cho đeo trước cổ tấm thẻ bài ghi “Thiên Tử Hạc” (Hạc của vua nuôi). Thiên Tử Hạc quen hơi người nên được thả trong vườn Thượng uyển.

Ngày nọ, con Thiên Tử Hạc bay ra khỏi hoàng cung. Nó lạc vào vườn một thường dân nên bị chó của nhà này cắn chết. Vua Tự Đức thấy mất con hạc mình yêu quý, dày công tốn sức chăm nuôi nên truyền cho thuộc cấp điều tra. Cấp dưới điều tra biết được việc chó nhà dân cắn chết hạc của vua nuôi nên đã quay về trình báo. Vua Tự Đức thấy hạc quý đã chết nên nổi giận, truyền cho Bộ Hình luận tội. Bộ Hình kết án chủ chó phải tội tử hình và bị tịch thu toàn bộ gia sản.

Việc xử án của Bộ Hình được quan Ngự sử Phạm Đan Quế biết được. Sau khi xem xét các tình tiết, ông xin yết kiến vua Tự Đức và trình một bản tấu, nội dung như sau:

Hạc bất năng ngôn

Khuyển vô thức tự

Hạc nhập dân viên

Khuyển trung vu chủ

Điểu, thú đấu tranh

U minh hà dự

Khuyển phệ hạc tử

Tôi quy vu chủ

Hạc trắc khuyển tử

Tường hà luật xử?

Dịch nghĩa:

Hạc chẳng biết nói

Chó không biết chữ

Hạc vào vườn dân

Chó trung với chủ

Chim, thú đánh nhau

Tối sáng không rõ

Chó cắn chết hạc

Tội quy cho chủ

Hạc mổ chết chó

Luật xử thế nào?

Nghe xong, vua Tự Đức cấp tốc hạ lệnh hủy bỏ bản án và không bàn đến nữa, bởi đối với vua Tự Đức, những lời của Phạm Đan Quế không những có tình mà còn rất có lý: chó và hạc đều là vật. Cả hai không biết nói, không biết chữ nên hạc đeo thẻ đề Thiên Tử Hạc chó cũng không biết. Như vậy, chó cắn chết hạc là do cái thói cắn nhau của hai con vật, nên không thể bắt chủ chó thế mạng. Nếu bản án trên thi hành như kết luận của Bộ Hình thì sau này thành án lệ. Chẳng hạn, lỡ có ngày chó hoàng cung cắn chết cầm thú nhà dân hay cắn chết người ta, không biết sẽ nghị án ra sao. Không lẽ phải bắt vua trị tội?

Tuy nhiên, càng nghĩ càng thấy vụ án không hề đơn giản, bởi trong chế độ phong kiến, ý vua tức là ý trời, không ai dám trái lệnh. Nhưng do ông Phạm Đan Quế nói quá có tình có lý nên vua Tự Đức đã nghe theo. Và việc vua Tự Đức nghe theo cũng chứng minh vị vua này cũng là một vị vua anh minh, biết nghe lời can gián của quần thần. Chính vì thế vụ án “chó cắn hạc vua” cũng đã để lại một điển tích hay về việc xử án ngày xưa của cha ông mà ngày nay chúng ta vẫn cần phải học tập. Đó là không phân biệt hay thiên vị một ai trong việc phân xử, chỉ có lẽ phải là luôn được tôn trọng triệt để.

Vụ án “Hải tặc”

Ở đường Chi Lăng, TP. Huế có Chiêu Ưng từ (đền Chiêu Ưng), nằm đối diện chợ Cồn Phú Cát hiện nay. Ngôi đền do Hoa thương phố Gia Hội xưa quyên góp sửa ngôi chùa cổ đã sụp đổ vào năm 1887. Năm 1908, ngôi đền được trùng tu và có tầm vóc như ngày nay. Đây là ngôi đền ghi dấu một vụ án vào đời Tự Đức.

o-1143-5a59759b4e14e

Hội quán của người Hoa ở phố cổ Gia Hội. Ảnh: Nguyễn Văn Toàn

Vụ án diễn ra vào mùa hè năm Tân Hợi (1851), khi vua Tự Đức đọc được tờ tấu do Bộ Binh chuyển lên báo Chưởng vệ Phạm Xích, Lang Trung Tôn Thất Thiều tâu trình đã đánh đuổi ba tàu hải tặc ở vùng biển Quảng Nam - Quảng Ngãi, rằng quan binh đã bắn chìm một chiếc, một chiếc bị quan binh áp sát, giết được rất nhiều hải tặc, thu tàu giải về neo tại vụng Chiêm Dữ, một chiếc bỏ chạy về phía đông, xin báo công để triều đình ban thưởng. Vua Tự Đức xem xong tờ tâu liền sinh nghi vì đánh nhau với hải tặc mà lính tráng chẳng ai bị thương tích gì, còn phía bên kia thì chết sạch, không một người bị bắt làm tù binh. Vụ việc nghiêm trọng nên vua Tự Đức nhấc bút châu phê vào tờ tấu: “Giao qua Bộ Binh điều tra cho rõ sự tình”.

Liền sau đó Quan thượng thư Bộ Binh phái thuộc cấp đi khám xét. Vài ngày sau, thuộc cấp đi về phúc trình rằng chiếc tàu giặc biển giống thuyền buôn hơn là tàu giặc. Ngay lúc ấy, một phụ nữ Hoa kiều đến nha môn xin cáo giác. Nguyên bà là Hoa kiều, làm nghề tiệm ăn ở phố Gia Hội, chồng cũng là Hoa kiều về nước bặt tin đã lâu. Khi viên đội trưởng trong vệ Tuyển Phong tên Trần Hựu đem bạn bè về chiêu đãi tại quán bà nhưng không đủ tiền trả nên rút chiếc nhẫn cầm tạm bảo thối tiền mặt, bà chủ thấy nhẫn ngờ ngợ, xem kỹ nhận ra bảo vật của chồng liền vặn hỏi. Trần Hựu lúc đầu tìm cách chối, sau chịu theo bà đến nha môn trình việc. Hóa ra y là thủ hạ của Tôn Thiết Thiếu.

Trước mặt quan Bộ Binh, Trần Hựu cung khai rằng ngày 17/6/1851, thuyền quan đậu ở cửa Thị Nại, được tin có ba chiếc thuyền lạ đậu ngoài hải phận đảo Thanh Dư, Chưởng vệ Phạm Xích và Thi lang Tôn Thất Thiều lập tức đuổi theo bắn và áp sát để bắt. Mặc dù đã trình thẻ nhà buôn nhưng 108 người Hoa trên tàu bắt được đều bị chém chết rồi đem quăng xuống biển mất xác. Sau đó còn tìm thấy một người khác trốn dưới đáy khoang. Bị phát giác, người này chạy thoát lên boong, phóng xuống biển mất tích. Toàn bộ hàng hóa trên chiếc tàu buôn của người Hoa được chuyển sang chiếc Bằng Đoàn của quan binh rồi chiếc thuyền buôn được sơn lại toàn màu đen để trông như tàu hải tặc và dẫn về vụng Chiêm Dữ.

Trước công đường, bà chủ quán ở phố Gia Hội kêu oan rằng chồng bà cùng nhiều bạn khác thuộc các bang ở Huế và Quảng Nam, Quảng Ngãi nhân về nước thăm quê nhà ở Hải Nam đã kết hợp đi buôn, có giấy phép của trên cấp. Vậy mà nay lại bị chết oan mà còn mang tiếng là hải tặc. Quan Thượng thư Bộ Binh sau khi gọi thêm nhân chứng điều tra, làm tờ tâu, nói bọn Xích giết càn và mạo xưng công lại. Vua Tự Đức thịnh nộ, phê giao Ty tam pháp xét xử. Thiều chủ mưu, bị đổi theo họ mẹ (Đặng), cùng Xích đều bị xử tội lăng trì, vợ con phải phát phối; Dương Cù đồng lõa, xử tội trảm quyết; Trần Hựu biết thú nhận khi chưa tra khảo nên được tha. Bản án dâng lên, vua Tự Đức châu phê chuẩn ngay, còn xuống chỉ truy thu tang vật trả lại thân nhân những người bị hại. Do đó, hàng năm vào độ rằm tháng sáu âm lịch, kể khi Chiêu Ứng từ xây xong, thân nhân các nạn nhân Hoa kiều sống tại Việt Nam hay từ Hải Nam, cũng như người Hoa kiều từ các nơi quy tụ về đây để làm lễ tưởng niệm, thường thường lễ kéo dài đến ba ngày. Truyền thống đó vẫn còn lưu giữ đến ngày nay.

Có thể nói rằng, bản án của vua Tự Đức phê chuẩn không những đã minh oan cho nạn nhân của vụ án “Hải tặc” mà còn cho thấy pháp luật Việt Nam nghiêm minh, không phân biệt một ai. Bản án còn thể hiện được sự sáng suốt của vua Tự Đức trong bang giao với Trung Quốc, nhất là trong chính sách bảo vệ ngoại kiều đến làm ăn, buôn bán với nước ta, làm cho nước ta không bị Trung Quốc có cớ gây khó dễ về mặt chính trị.

Vụ án Phạm Đăng Tuấn

Năm 1872, giặc Pháp ồ ạt đánh chiếm các tỉnh miền Bắc nước ta. Các thành trì của quan quân đa phần đều thất thủ. Do đó, vua Tự Đức đã triệu hồi cử nhân Phạm Đăng Tuấn, đương chức quan Án sát tỉnh Ninh Bình về Huế để nhận án chém.

Nghe báo tin dữ, con gái của Phạm Đăng Tuấn là Phạm Thị Tảo mới khoảng 12-13 tuổi đã cuốc bộ từ Diễn Châu (Nghệ An) vào Huế, mang theo lá đơn xin được chết thay cho cha. Dâng lá đơn lên vua Tự Đức, hai cha con họ Phạm tưởng sẽ bị vua chém đầu cả hai. Nhưng thật không ngờ, vua Tự Đức cảm động trước lòng chí hiếu của cô gái trẻ, đã tha tội chém cho Án sát Phạm Đăng Tuấn, nhưng đày ông lên Lạng Sơn. 

Nguyễn Văn Toàn