Thứ hai, 18/9/2017 | 16:11 GMT+7

Vụ án nhà tư sản Nguyễn Thị Năm: Còn đợi đến bao giờ?

LSVNO - Một ngày sau tổng khởi nghĩa do Việt Minh lãnh đạo ở Hà Nội thắng lợi, bà con bên Quốc lộ 5 và Quốc lộ 3 từ Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên lên Phúc Yên đều thấy một ô tô sang trọng chở một thiếu phụ, bên ngoài cắm lá cờ đỏ sao vàng 5 cánh đi lên Thái Nguyên.

Chứng kiến cảnh tượng đó, ai cũng ngỡ ngàng, lạ lẫm, dù ven đường vẫn còn một số chốt điểm do bọn bại binh Nhật Bản canh giữ.

nguyen-thi-nam-59bf8ca22d88e

Bà Nguyễn Thị Năm

Đó là chiếc xe chở bà Nguyễn Thị Năm (SN 1906) - một góa phụ tài đảm, giỏi buôn bán kinh doanh ở Hà Nội, Hải Phòng, có một đồn điền ở Đồng Bẩm (Thái Nguyên). Bà Năm có tinh thần dân tộc, yêu nước cách mạng khá cao, bà còn có tên gọi là Cát Hanh Long (tên một hiệu buôn do bà làm chủ ở Hải Phòng). Bà Năm lên Thái Nguyên để báo tin “Đại thắng” của cách mạng cho cán bộ Việt Minh và hai con trai bà (đang tham gia Việt Minh) biết.

Trước khi  thành công, bà Năm đã ủng hộ Việt Minh 20.000 đồng tiền Đông Dương (giá trị bằng 700 lượng vàng) không kể vải vóc, lương thực. Tại “Tuần lễ vàng” ở Hải Phòng theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 9/1945, bà Năm cũng đã ủng hộ 100 lạng vàng nữa. Bà được cử làm Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thái Nguyên ba năm liền. Các ngôi biệt thự của bà ở Hà Nội, Hải Phòng, ở đồn điền Đồng Bẩm đều là nơi qua lại, ăn ở, địa điểm liên lạc của cán bộ Việt Minh cao cấp. Hai con trai bà là Nguyễn Văn Hanh, Nguyễn Văn Cát đều theo Việt Minh đi bộ đội. Nguyễn Hanh từng tháp tùng đoàn đại biểu Chính phủ do các ông Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận...vào Huế nhận ấn kiếm khi vua Bảo Đại thoái vị.

Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bà không ở vùng địch tạm chiếm nơi bà có nhà cao cửa rộng, biệt thự khang trang. Khu đồn điền Đồng Bẩm (Thái Nguyên) nơi bà sinh sống từng nuôi cả một trung đoàn bộ đội trong thời gian dài, chính bà Năm đã giao búa tạ, xà beng cho anh em tự vệ phá bỏ biệt thự, nhà cửa của bà ở Đồng Bẩm theo lệnh “tiêu thổ kháng chiến”của Chính phủ.

Những việc làm yêu nước chân chính của bà Năm - một địa chủ, tư sản giàu tính dân tộc, tinh thần yêu nước được dư luận đương thời đánh giá cao, vang tiếng đồn tốt đẹp ở vùng ATK những năm đầu kháng chiến.

Sau chiến thắng giải phóng Tây Bắc cuối năm 1952, cuộc kháng chiến chống Pháp đã qua 2.000 ngày, đang tích cực chuẩn bị chuyển sang giai đoạn tổng phản công, giành thắng lợi cuối cùng. Cuối năm 1953, Quốc hội Khóa I đã ban hành Luật Cải cách ruộng đất nhằm thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ để “người cày có ruộng”, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, cải thiện đời sống nhân dân, đẩy mạnh kháng chiến, kiến quốc nhanh chóng thành công.

Giữa năm 1953, Trung ương phát động giảm tô ở Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên nơi có phong trào khá mạnh ở vùng tự do khi ấy. Đồn điền Đồng Bẩm ở Thái Nguyên do địa chủ Nguyễn Thị Năm chiếm hữu được chọn làm điểm chỉ đạo của Trung ương, hàng trăm cán bộ có bản lĩnh chính trị cao, lập trường tư tưởng vững vàng được cử về Đồng Bẩm, thực hiện nghiêm chỉnh các bước: “bắt rễ sâu chuỗi” trong nông dân tá điền, ba cùng với bần cố nông, thăm nghèo hỏi khổ,tốtínhso truy, căm thù sâu sắc địa chủ (và cả một số phú nông)...

Tuy là một người có công lớn giúp đỡ cách mạng hàng chục năm liền kể từ tiền khởi nghĩa tháng 8/1945, có hai con là bộ đội (một đang chỉ huy trung đoàn của Đại đoàn 308 - gọi là Đại đoàn quân tiên phong), con dâu đang hoạt động tại vùng tạm chiếm Bắc Ninh, nhưng bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) đã bị quy là “địa chủ cường hào ác bá” và đã bị xử án tử hình ngay trong đợt vận động giảm tô năm 1953 trước khi thực hiện cải cách ruộng đất được mở rộng  trong ba năm sau đó.

Khi mẹ phạm tội ác tày trời, bị xử tử hình ở quê hương, hai người con trai là Nguyễn Văn Hanh, đang học tập ở Nam Ninh (Trung Quốc) bị điệu về nước, đưa ngay vào trại cải tạo; Nguyễn Văn Cát - chỉ huy bộ đội của Đại đoàn 308 đang chỉnh huấn ở nước bạn  cũng bị bắt giải về giam ở Việt Bắc, không có bản án rõ ràng. Vợ ông Cát là Đỗ Ngọc Diệp đang hoạt động ở vùng địch hậu Bắc Ninh nên không bị bắt, nhưng lại được người ta khuyên cắt đứt quan hệ với con trai một địa chủ cường hào ác bá; bà Diệp không chịu,khi sửa sai sau này vợ chồng ông Cát - bà Diệp mới được đoàn tụ.

Tư sản địa chủ cường hào ác bá Nguyễn Thị Năm bị đưa ra pháp trường thi hành án tử hình tối ngày 29/5 năm Quý Tỵ (ngày 9/7/1953) tại Thái Nguyên khi 47 tuổi, đã có tiếng vang lớn cả nước, đó là một thắng lợi đầu tiên trong quá trình “Bài phong”của cách mạng, dư luận đồng tình, ca ngợi như vụ án xử tử hình tên Trần Dụ Châu - Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu can tội tham ô công quỹ cũng ở Thái Nguyên gần ba năm trước đó (tháng 9/1950).

Sau khi phát động giảm tô 1953 thắng lợi, cuộc cải cách ruộng đất được mở rộng khắp miền Bắc ba năm sau đó, ruộng đất bị địa chủ (và cả phú nông) chiếm hữu đã về tay nông dân, hơn một triệu nông dân lao động là bần cố nông đã làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn, là một tác nhân quan trọng tạo nên thắng lợi trong “Chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu”.

Song cuộc cách mạng về ruộng đất khi ấy đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng trong quá trình chỉ đạo thực hiện (một phần do áp dụng máy móc kinh nghiệm của nước ngoài), nhiều cán bộ, đảng viên,nông dân bị xử lý oan sai. Công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất do đồng chí Lê Đức Thọ là Trưởng ban được tiến hành khẩn trương, nhiều người được giải oan, lấy lại niềm tin trong Đảng và nhân dân.

Biết chuyện bà Nguyễn Thị Năm bị tử hình trong cuộc vận động giảm tô 1953, cả Hồ Chủ tịch và các vị lãnh đạo cao cấp ở Trung ương đều cho đó là một sai lầm.

Nếu trong khi xét đơn xin giảm án tử hình của tên giặc nội xâm Trần Dụ Châu tháng 9/1950 cũng tại Thái Nguyên, Bác đã nói: “Diệt một con sâu phá rỗng một cây rừng để bảo vệ cứu cả khu rừng là việc làm cần thiết và nhân đạo”, còn với việc tử hình bà Nguyễn Thị Năm - người đóng góp của cải, tài sản cho cách mạng... Hồ Chủ tịch đã nói với nhiều đồng chí Trung ương: “Người ta không nên đánh phụ nữ dù bằng một cánh hoa hồng, huống hồ phát súng đầu tiên của cải cách ruộng đất lại nhằm vào một phụ nữ, mà người ấy lại rất có công với cách mạng”.

Sau khi sửa sai của cải cách ruộng đất, các con bà Năm là ông Hanh được vào làm ở Ty Kiến trúc Thái Nguyên, ông Cát làm ở Ty Thương nghiệp, cả hai ông được công nhận là cán bộ “tiền khởi nghĩa”, bà Diệp được công nhận là cán bộ hoạt động lâu năm, được cấp một căn hộ khu tập thể Trung Tự, nhưng con cái của họ vẫn bị hệ lụy từ thành phần giai cấp của người bà nội quá cố.

Cho đến năm 1987, khi đất nước bắt đầu đổi mới theo Nghị quyết Đại hội 6 của Đảng, bà Nguyễn Thị Năm mới được minh oan, sửa lại thành phần giai cấp sau 1/3 thế kỷ bị oan sai.

Theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Tổ chức Trung ương đã đề nghị Tỉnh ủy Bắc Thái (tháng 4/1987) sửa lại thành phần giai cấp cho bà Năm do hai con trai bà đầu đơn, đến tháng 6/1987 UBND tỉnh Bắc Thái đã quyết định ghi rõ: “Bà Nguyễn Thị Năm, tức Cát Hanh Long trước bị quy là “Tư sản địa chủ cường hào gian ác” nay sửa lại thành phần giai cấp cho bà Năm là: “Tư sản địa chủ kháng chiến”.

Song theo chính sách hiện hành của Đảng, Nhà nước, dù đã được minh oan trở thành “Tư sản địa chủ kháng chiến” có nhiều công lao đóng góp cho cách mạng, bà Nguyễn Thị Năm vẫn chưa được Nhà nước khen thưởng (truy tặng) như ngàn, vạn người có công với cách mạng theo Nghị định 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ, mặc dầu con bà đã nhiều lần gửi đơn xin các cơ quan cứu xét, nhưng vẫn chưa được một cơ quan nào trả lời. Chủ trương đầy ý nghĩa chính trị, nhân văn, nhân đạo của Trung ương từ mấy chục năm qua với bà Năm mới được thực hiện một nửa, nửa còn lại (khen thưởng bà Năm) vẫn còn đó. Đây không chỉ là mong đợi của con cháu, gia đình, họ tộc bà Năm mà còn là ý muốn chung của dư luận - người có tội phải xử lý, người có công như tư sản địa chủ Nguyễn Thị Năm phải được khen ngợi biểu dương thỏa đáng dù đã quá muộn, để đảm bảo công bằng xã hội.

 Phong Châu