Thứ sáu, 1/9/2017 | 23:36 GMT+7

Người kéo cờ cách mạng lên kỳ đài Huế năm 1945

LSVNO - Ông là một trong hai người đại diện cho chính quyền cách mạng hạ cờ của chính quyền phong kiến xuống, kéo cờ đỏ sao vàng cách mạng lên đỉnh kỳ đài Huế vào thời khắc lịch sử năm 1945. Sự kiện này đặt dấu chấm về vai trò của một triều đại phong kiến đã tồn tại hàng trăm năm ngay giữa Hoàng đô, mở ra một thời kỳ lịch sử mới cho toàn dân tộc.

Dù sắp bước sang cái tuổi “bách niên”, nhưng trong tâm trí của người cựu binh không bao giờ quên những thời khắc lịch sử đã gắn liền với cuộc đời mình.

Xuất thân từ quê hương xứ Nghệ anh hùng, cuộc đời ông Đặng Văn Việt đã chứng kiến và tham gia rất nhiều những sự kiện có liên quan đến vận mệnh dân tộc: tự tay ông đã chôn cất hàng trăm xác chết của đồng bào trong nạn đói cuối năm 1944, đầu 1945 tại Hà Nội; tham gia hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, được mệnh danh là “Anh hùng đường số 4”; và là một trong hai người kéo cờ cách mạng lên đỉnh kỳ đài Huế trong thời khắc chuyển giao chính quyền năm 1945.

Nhiệm vụ bất ngờ

Dù ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng khi nhắc đến sự kiện kéo cờ lên đỉnh kỳ đài ánh mắt người lính già vẫn sáng ngời, ông kể vanh vách từng chi tiết với giọng rõ ràng, mạch lạc.

Vốn là một sinh viên trường y, sau khi Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương ông Việt vào Huế tham gia cách mạng. Tại đây, ông đã tham gia Trường Thanh niên tiền tuyến. Ông nằm ở tổ Việt Minh và hoạt động bí mật trong Nhà trường, có nhiệm vụ Việt Minh hoá tất cả sinh viên của trường.

 1-59a98b1b87b69

 Ông Đặng Văn Việt: "Những năm tháng chiến đấu luôn in đậm trong tâm trí tôi"

Lúc này, phong trào cách mạng ở Huế đang lên cao, tất cả 43 sinh viên của Trường đều hưởng ứng phong trào cách mạng. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra ở Huế, 43 sinh viên Thanh niên tiền tuyến đã trở thành 43 sĩ quan giải phóng quân của Thừa Thiên Huế. Sau này họ phát triển thành những sĩ quan thuộc diện nòng cốt của quân đội nhân dân trong toàn quốc.

Ngoài ra, đơn vị của ông thường xuyên liên lạc với Tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế, trực tiếp là các ông Hoàng Anh, Tố Hữu, Trần Hữu Dực.

Sáng 20/8/1945, ông nhận tin mật được mời đến một địa điểm gần Nam Giao. Tại đây, ông gặp đồng chí Trần Hữu Dực (lúc đó là Thường vụ Tỉnh uỷ, sau này là Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Trung Bộ).

Vừa gặp ông, ông Trần Hữu Dực giao cho ông một lá cờ to bằng cả ba gian nhà và nói: “Tôi giao cho đồng chí lá cờ đỏ sao vàng. Đồng chí có nhiệm vụ treo nó lên cột cờ lớn trước cửa Ngọ môn”.

Trước sự việc đó, ông hết sức bỡ ngỡ, và hỏi: “Xin đồng chí cho biết khi nào xong nhiệm vụ”. “Nội trong sáng mai (21/8/1945)”- ông Trần Hữu Dực trả lời.

Nhận nhiệm vụ xong, ông vô cùng lo lắng, buộc lá cờ lên xe đạp đem về cất ở trường nhưng trong đầu chỉ có một ý nghĩ: làm thế nào để hoàn thành nhiệm vụ?

Kỳ đài Huế nằm cách cửa Ngọ môn chừng 300 mét, chiếm một khu vực rộng chừng 4ha, với 3 tầng, cao hơn 17 mét. Ở Huế, từ cách xa 40 cây số người dân vẫn thấy lá cờ quẻ ly (cờ của chính quyền phong kiến) phấp phới tung bay trước gió, nó là biểu tượng cho triều đại nhà Nguyễn đang trị vì.

Hành động thần tốc

Khi về đến trường, ông cất lá cờ trong phòng. Lúc này tất cả mọi thanh niên trong trường đều đã rất giác ngộ cách mạng, tình hình đang có nhiều thuận lợi.

Ông tìm gặp ông Lâm Kèn (Tổ trưởng, sau này là Thiếu tướng – Quân Khu trưởng Liên khu V) để bàn bạc công việc.

Ông Lâm gợi ý sẽ huy động thêm anh Nguyễn Thế Lương (bí danh Cao Pha) cùng làm việc này. “Anh Lâm đã cho tôi mượn khẩu súng barillet cùng với 6 viên đạn xịt để tăng thêm uy thế. Anh còn dặn tôi, phải cảnh giác với phản ứng của lính khố vàng của Bảo Đại. Phong cách ăn mặc phải chỉnh tề, tỏ ra oai vệ”.

Ngày 21/8/1945 (3 ngày trước khi Cách mạng tháng Tám ở Huế nổ ra), ông đã cùng với ông Cao Pha dậy sớm, chuẩn bị đầy đủ mọi thứ và không quên khẩu barillet. “Chúng tôi cuộn lá cờ lại, nó to như cây cột nhà, rồi buộc hai đầu vào hai chiếc xe đạp. Cứ thế, chúng tôi đẩy nó đến chân cột cờ”.

 2-59a98b3ed1f5a

 Kỳ đài Huế

Đến nơi khoảng 9 giờ, ông dặn Cao Pha ở lại cùng xe và cờ, rồi một mình đi lên kỳ đài để gặp đội pháo thủ.

Ở giữa kỳ đài có cột bê tông cao gần 50 mét, 5, 6 người ôm không xuể, bóng cờ che rợp cả một góc thành. Dây thừng kéo cờ to bằng cổ tay, trên đỉnh cột có ròng rọc để kéo. Khi kéo phải 5, 6 lính vạm vỡ mới đưa nổi cờ lên đỉnh cột.

Bảo vệ kì đài là một tiểu đội có 12 lính dõng, với 12 khẩu súng mutcotong, chỉ huy là một thầy đội. Ngoài việc bảo vệ cờ, tiểu đội cận vệ còn có nhiệm vụ bắn pháo lệnh vào những thời khắc trong ngày cho toàn kinh thành.

Lên đến đỉnh kỳ đài, gặp thầy đội, ông thông báo lệnh của uỷ ban kháng chiến về việc treo cờ cách mạng thay cờ quẻ ly, và nhờ sự giúp đỡ của đội lính. Sau đó, thầy đội cho lính xuống dưới giúp chúng tôi đưa lá đại kỳ lên đỉnh kỳ đài.

Sau khi làm nghi thức chào cờ, lá cờ đỏ sao vàng được từ từ kéo lên cao, đồng thời cờ quẻ ly từ từ hạ xuống. “Lá cờ rộng 120m2, khi kéo lên bị gió thổi đã quét chúng tôi ngã nhào ra đất. Xong nhiệm vụ, tôi truyền lệnh cho thầy đội không được hạ cờ đỏ sao vàng xuống khi chưa có lệnh của chính quyền Cách mạng”.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông cùng với Cao Pha lại lên xe đạp về trường.

Thoát chết trong gang tấc

Sau khi ông Việt cùng ông Cao Pha kéo cờ cách mạng lên kỳ đài, ngày 23/8/1945 cuộc Cách mạng tháng 8 nổ ra ở Kinh đô Huế. Hàng chục vạn người đổ về, biểu tình mít tinh rầm rộ như những dòng thác lũ. Chính quyền đã về tay nhân dân.

Lớp Thanh niên tiền tuyến của ông Việt trở thành lực lượng nòng cốt cho cách mạng ở Huế lúc bấy giờ, có nhiệm vụ chiếm cứ các công sở, tước vũ khí của các lực lượng vũ trang phản cách mạng, thành lập lực lượng vũ trang đầu tiên để bảo vệ chính quyền còn non trẻ.

Ngày 30/8/1945, một cuộc mít tinh và biểu dương lực lượng của hàng trăm nghìn người thuộc các tầng lớp xã hội do chính quyền cách mạng tổ chức tại quảng trường Ngọ Môn đã tạo nên khí thế vô cùng sôi động chưa từng có ở Huế. Ngay tại tầng 2 của lầu Ngũ Phụng, phái đoàn đại diện của chính quyền cách mạng gồm các ông: Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đã thực hiện nghi thức nhận ấn, kiếm từ chính quyền vua Bảo Đại. 

Khi ông Việt đang đứng trên cửa Ngọ môn dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại thì có một lãnh binh thuộc quân đội Hoàng gia đến bên cạnh kể lại.

Ngày 21/8, khi ông và Cao Pha đang làm việc hạ cờ nhà vua treo cờ đỏ sao vàng lên cột cờ lớn thì vị lãnh binhnày được lệnh triển khai một đại đội cảnh vệ Hoàng gia nằm dọc theo thành của cửa Ngọ môn, 120 khẩu súng chĩa vào hai người chờ lệnh. Vị lãnh binh xin phép vua Bảo Đại hạ lệnh. Nhưng nhà vua đã hỏi ý kiến Hoàng hậu Nam Phương đứng bên cạnh việc bắn hay không bắn?

Lúc này Hoàng hậu Nam Phương nhắc lại cho vua Bảo Đại câu chuyện liên quan đến Cách mạng Pháp (1789) giữa vua Luis 16 và Marie Antoinette, chỉ vì vua cho phép lính bắn vào cách mạng Pháp mà cả hai sau này bị chém đầu. Nghe xong, vua Bảo Đại vội vàng ra lệnh không được bắn.

“Có lẽ chúng tôi cao số, nếu vua hạ lệnh thì tôi đã chết từ ngày đó”, ông Việt vui vẻ nói.

 3-59a98b6756eb6

Ông Đặng Văn Việt và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: NVCC

Đánh giá sự kiện này, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng: Sự kiện “hạ cờ nhà vua, giương cao cờ đỏ sao vàng” thực chất là một trận đánh nhỏ, không kèn, không trống, không một tiếng súng, không đầu rơi máu chảy... Nhưng hiệu quả đạt được thì lại rất to lớn, ngoài sức tưởng tượng – buộc nhà vua phải rời bỏ ngai vàng, cáo chung cho triều đình nhà Nguyễn với 9 đời vua đã tồn tại 143 năm (1802-1945) nói riêng và chế độ phong kiến Việt Nam nói chung, tạo tiền đề cho một chế độ chính trị mới tiến bộ hơn được xác lập ngay tại kinh đô./.

Lê Hoàng