Thứ ba, 6/6/2017 | 09:45 GMT+7

Nữ luật sư với sứ mệnh bảo vệ công lý

LSVN - Trải qua nhiều thế kỷ đấu tranh cho bình đẳng giới, năm 1948 Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền của Liên hợp quốc ra đời, quyền căn bản của con người không phân biệt giới tính, chủng tộc hay địa vị xã hội được thực hiện.

Đấu tranh bình đẳng giới

Quyền chính trị của phụ nữ được luật pháp các nước thừa nhận và trân trọng. Việc giành được quyền bình đẳng giới là kết quả của một quá trình đấu tranh gay gắt để chiến thắng định kiến ​​xã hội, chủng tộc và chiến thắng áp bức trên thế giới nói chung và ở các nước thuộc địa nói riêng. Quyền bình đẳng giới về chính trị có ý nghĩa rất quan trọng, trước hết là quyền bầu cử, ứng cử và quyền bảo vệ công lý của phụ nữ.

Vào năm 1893, cách đây 224, năm người phụ nữ đầu tiên ở New Zealand và cũng là người phụ nữ đầu tiên trên thế giới có quyền bầu cử và ứng cử, tiếp sau là ở Australia (năm 1902). Mặc dù năm 1788, Hiến pháp Hoa Kỳ đã công nhận quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ, nhưng đến ngày 26/8/1920, quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ mới được pháp luật khẳng định. Tại các nước Bắc Âu, giữa những năm 1907 và 1915, phụ nữ Na Uy, Đan Mạch và Iceland có quyền bầu cử và ứng cử. Ở Nam Phi, đến ngày 30/3/1984 phụ nữ da màu mới có quyền bầu cử.

Theo các nhà nghiên cứu lập pháp, Nghị viện Thụy Điển ra đời từ năm 1435, nhưng đến năm 1921, tức là sau 486 năm mới có một phụ nữ được bầu làm nghị sĩ. Điều đó cho thấy, từ quyền bầu cử, ứng cử cho tới khi năng lực chính trị của phụ nữ chính thức được xã hội công nhận để có tiếng nói trong cơ quan lập pháp là cả một quá trình gian nan qua nhiều thế kỷ.

Theo dữ liệu của Liên minh Nghị viện thế giới - IPU, tính đến ngày 01/12/2016, trên thế giới có 10.526 nữ nghị sĩ, chiếm 23% trong tổng số 46.048 nghị sĩ trên toàn cầu. Qua khảo sát ở 191 nghị viện quốc gia, Oman chỉ có 1 nữ nghị sĩ, chiếm 1,2%. Nghị viện các nước Haiti, Micronesia (Federated States of), Palau, Qatar, Tonga, Vanuatu và Yemen đến nay chưa có nữ nghị sĩ nào. Ở Việt Nam có 133 nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV, chiếm 24,4% trong tổng số 496 đại biểu.

Vạn sự khởi đầu nan

Trải qua nhiều thập kỷ đấu tranh không mệt mỏi, các nữ sinh mới có quyền bình đẳng để được vào học tại các trường luật và trở thành luật sư, sau đó tham gia hoạt động tư pháp, hành nghề luật sư, bảo vệ công lý.

Năm 1869 Arabella Babb Mansfield là nữ luật sư đầu tiên được nhận vào Hiệp hội Luật sư Iowa, Hoa Kỳ. Cô đã tập sự hành nghề luật tại văn phòng của anh trai cô hai năm trước khi nhận được giấy chứng nhận hành nghề luật sư. Năm 1872, Charlotte E. Ray là nữ luật sư người Mỹ gốc Phi đầu tiên được tham gia đoàn luật sư. Mười năm sau, vào năm 1879, Belva A. Lockwood là nữ luật sư đầu tiên được bào chữa tại Tòa án tối cao Hoa Kỳ.

Năm 1884, Sarmisa Bilcesco là nữ sinh người Romania đầu tiên đăng ký vào Đại học Luật Paris. Năm 1887 cô tốt nghiệp, nhận bằng cử nhân và đến năm 1890 đậu tiến sĩ. Sau đó, cô trở về nước được nhận vào Hiệp hội Luật sư Romania và trở thành nữ luật sư đầu tiên ở châu Âu. Còn ở Pháp, hai nữ luật sư đầu tiên được nhận vào Hiệp hội Luật sư Pháp là Olga Petit và Jeanne Chauvin, họ đã lần lượt tuyên thệ nhậm chức vào ngày 06 và 19/12/1900.

Ở quốc đảo New Zealand, nữ luật sư chỉ được phép hành nghề sau khi được Nghị viện New Zealand thông qua đạo luật về hành nghề luật sư năm 1896. Từ đó, Ethel Benjamin trở thành nữ luật sư đầu tiên ở New Zealand khi cô được Tòa án tối cao công nhận là luật sư tranh tụng và tư vấn vào tháng 5/1897.

Năm 1898, Myrthes Gomes de Campos là nữ sinh viên Brazil đầu tiên tốt nghiệp trường luật. Nhưng đến năm 1906 Campos mới được nhận vào Học viện Luật sư Brazil (Instituto dos Advogados do Brazil), nay là Hiệp hội Luật sư Brazil.

Ekaterina Fleischitz (1888-1968) là nữ luật sư đầu tiên ở nước Nga được bào chữa cho các bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự. Năm 1907, cô tốt nghiệp Đại học Luật Sorbonne, năm 1909 hoàn thành khóa đào tạo luật sư tại Đại học St. Petersburg. Ngày 05/11/1909, lần đầu tiên Ekaterina Fleischitz được phép của tòa án đại diện cho một khách hàng bào chữa cho thân chủ của mình trước tòa. Theo quy định, đến năm 1911 nữ sinh mới được nhận vào học tại các trường luật ở nước Nga. Dưới đế chế Nga hoàng, phụ nữ không được phép hành nghề luật sư. Sau Cách mạng tháng Mười Nga (1917), dưới thời Xô-viết, sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan tư pháp đã trở thành một yếu tố chính trị quan trọng.

Năm 1910, Maria Angélica Barredas là người phụ nữ Argentina đầu tiên được thừa nhận hành nghề luật sư.

Năm 1888, ở Scotland, Elizabeth Orme là nữ sinh đầu tiên được nhận bằng cử nhân luật tại Đại học London. Còn Eveline MacLaren và Josephine Gordon Stuart là hai nữ sinh đầu nhận bằng cử nhân luật tại Đại học Edinburgh năm 1909. Đạo luật xóa bỏ sự bất bình đẳng giới năm 1919 đã mở đường cho phụ nữ được hành nghề luật sư, cho phép 4 nữ luật sư đầu tiên được kết nạp vào Hội Luật sư năm 1922 là Maud Crofts, Carrie Morrison, Mary Pickup và Mary Sykes. Carrie Morrison là người đầu tiên trong số bốn người được thừa nhận là luật sư ở Anh quốc sau khi kết thúc bài tranh tụng của mình. Margaret Kidd là nữ luật sư đầu tiên được Hiệp hội Luật sư Scotland công nhận hành nghề vào năm 1922 và sau này trở thành nữ luật sư đầu tiên được bổ nhiệm làm Luật sư Hoàng gia vào năm 1948.

Một số ít nữ sinh trong cộng đồng người Do Thái ở Palestine trong thời kỳ ủy thác của Vương quốc Anh đã tích cực theo đuổi ngành luật học. Theo báo cáo, Freda Slutzkin là người phụ nữ đầu tiên được hành nghề luật sư tại Palestine trong nhiều năm. Còn Rosa Ginossar (1890-1979) nhập cư vào Israel năm 1908 và ngày 19/10/1913 nhận bằng tốt nghiệp luật tại Đại học Paris. Năm 1922, Ginossar trở về Palestine tham dự kỳ thi dành cho các luật sư nước ngoài và sau đó được nhận vào Hội Luật sư Palestine. Sau đó, Ginossar kiến ​​nghị với Tòa án tư pháp tối cao và được Tòa cho phép hành nghề theo một quyết định mang tính đột phá ban hành ngày 15/02/1930. Ginossar nhận được giấy phép hành nghề luật sư vào ngày 26/7/1930 và trở thành nữ luật sư thứ hai được hành nghề luật sư.

Khoảng giữa những năm 1909 và 1912, Madeline Wookey đã bị Hiệp hội Luật sư Cape Tawn (Nam Phi) từ chối không cho phép hành nghề luật sư tại tòa án. Theo quy định, phụ nữ chỉ được hành nghề luật sư từ tháng 3/1923 sau khi Quốc hội thông qua đạo luật số 7 về hành nghề của nữ luật sư. Vì vậy, trong tháng 5/1923, Irene Antoinette Geffen đã trở thành người phụ nữ đầu tiên ở Nam Phi được phép hành nghề luật sư.

Petridou là nữ luật sư Hy Lạp đầu tiên được công nhận hành nghề luật sư và trở thành thành viên của Hội Luật sư Athens vào năm 1925. Còn ở Ai Cập, Naima Ilyas al-Ayyubi tốt nghiệp Đại học Luật Cairo năm 1933, sau đó trở thành nữ luật sư đầu tiên ở đất nước này.

Năm 1929, Đại học Meiji là trường luật đầu tiên ở Nhật Bản nhận nữ sinh viên học luật. Năm 1936, Nghị viện thông qua một đạo luật sửa đổi bổ sung có liên quan tới luật sư, mở đường cho ba nữ luật sư đầu tiên được phép hành nghề (năm 1940): Luật sư Masako Nakata sau này trở thành Chủ tịch Liên đoàn các Hiệp hội Luật sư Nhật Bản; Yoshiko Sanfuchi trở thành nữ thẩm phán đầu tiên vào năm 1949, Ai Kume là một trong những thành viên sáng lập và là Chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội Nữ luật sư Nhật Bản thành lập vào năm 1950.

Ở Việt Nam có 3.716 nữ luật sư, chiếm 34% tổng số 10.914 luật sư trong cả nước. Đội ngũ nữ luật sư đã tích cực tham gia các hoạt động tại các đoàn luật sư, nhiều nữ luật sư tham gia Hội đồng Luật sư toàn quốc, Ban Thường vụ, các ủy ban và các đơn vị trực thuộc Liên đoàn. Luật sư Phạm Thị Thanh Vân (1934 - 2004), tên khác là Ngô Bá Thành, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội các khóa 6, 7, 8 và 10; Phó chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam; Phó chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, là nữ luật sư nổi tiếng một thời.

Hiệp hội Nữ luật sư quốc gia

Năm 1899 một nhóm 18 nữ luật sư ở thành phố New York thành lập Câu lạc bộ Nữ luật sư. Năm 1911, Câu lạc bộ xuất bản số Tạp chí đầu tiên với giá 15 ¢ (cent) một số. Đến năm 1914, Câu lạc bộ Nữ luật sư tăng lên 170 thành viên đại diện của 25 bang. Năm 1918, Thẩm phán Mary Belle Grossman và Mary Florence Lathrop đã trở thành hai nữ luật sư đầu tiên được nhận vào Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (American Bar Association).

Chủ tịch Hiệp hội Nữ luật sư quốc gia Hoover (hàng trên cùng, người thứ hai từ trái sang phải) cùng các nữ luật sư thông qua toàn quyền Hoa Kỳ tại La-hay yêu cầu bỏ phiếu cho đạo luật bình đẳng nam nữ trên toàn cầu. Photo: Harris & Ewing, ngày 02/4/1930, Cục Ấn loát và ảnh Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.

Trong bốn thập kỷ đầu tiên, Câu lạc bộ đã hoạt động không mệt mỏi trên các lĩnh vực luật pháp liên quan tới các vấn đề xã hội, bao gồm cả luật lao động trẻ em, mức lương tối thiểu, luật hôn nhân và ly hôn, quyền của phụ nữ được giữ tên họ của mình sau khi kết hôn và quyền của phụ nữ được tham gia bồi thẩm đoàn.

Năm 1923, do thành viên nữ luật sư trong cả nước tăng lên 300 ở 32 bang, Câu lạc bộ Nữ luật sư đổi tên thành Hiệp hội Nữ luật sư quốc gia (The National Association of  Women Lawyers - NAWL), đánh dấu sự phát triển và trưởng thành của Hiệp hội. Hiệp hội là một tổ chức tự nguyện hợp pháp, đặt trụ sở ban đầu tại New York. Mục đích của Hiệp hội là thúc đẩy việc bảo vệ lợi ích của nữ luật sư và các quyền của phụ nữ. Năm 1943, NAWL trở thành một tổ chức của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (ABA). Năm 1945, NAWL chính thức trở thành tổ chức phi chính phủ và Quan sát viên tại Liên hợp quốc.

NAWL cũng là một thành viên có trách nhiệm của Hiệp hội Luật sư quốc tế, đóng vai trò tích cực trong các vấn đề quốc tế, bao gồm việc thông qua Công ước diệt chủng của Liên hợp quốc, hỗ trợ việc soạn thảo Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, góp phần thành lập Ủy ban Pháp luật quốc tế để tham gia vào Ủy ban Liên hợp quốc về địa vị phụ nữ.

Liên đoàn Nữ luật sư quốc tế

Liên đoàn Nữ luật sư quốc tế (The International Federation of Women Lawyers - IFWL, tên gọi chính thức theo tiếng Tây Ban Nha là Federación Internacional de Abogadas - FIDA) ra đời năm 1944 tại thành phố Mexico do các nữ luật sư Vera Poska-Grünthal (người Estonia), Clara Campoamor (người Tây Ban Nha), Marcelle Kraemer và Agathe Dyvrande-Thevenin (người Pháp), Margarete Berent (người Đức) sáng lập (cũng có tư liệu cho rằng Liên đoàn Nữ luật sư quốc tế ở Paris được thành lập năm 1928 tại Paris).

IFWL là tổ chức phi chính phủ quốc tế, có nhiệm vụ thúc đẩy nâng cao địa vị của phụ nữ và trẻ em thông qua việc cung cấp trợ giúp pháp lý, các chương trình xóa mù chữ, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nghiên cứu, cải cách pháp luật dựa trên các nguyên tắc và mục tiêu của Liên hợp quốc về pháp lý và xã hội.

IFWL có tư cách tham vấn tại Liên hợp quốc từ năm 1954. IFWL gồm các thành viên cá nhân và các tổ chức liên kết. Các thành viên cá nhân phải là nữ luật sư được công nhận hoạt động hành nghề luật sư ở quốc gia mình. Các tổ chức liên kết được thiết lập tại 73[1] quốc gia ở 5 châu lục trên thế giới. IFWL tổ chức các hội nghị quốc gia, khu vực và quốc tế. Mỗi hội nghị được tổ chức hai năm một lần tại quốc gia của chủ tịch đương kim theo thứ tự luân phiên.

Để hoàn thành sứ mệnh bảo vệ công lý, trải qua nhiều thế kỷ đấu tranh cho bình đẳng giới về các quyền chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, từ quyền bầu cử, ứng cử đến quyền được vào học trường luật, phấn đấu trở thành luật sư, rồi được hành nghề là cả một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ. Nhưng niềm tin chân lý mãi mãi ngời sáng dẫn dắt đội ngũ nữ luật sư vươn lên hoàn thành xuất sắc sứ mệnh vẻ vang mà nhân loại giao phó.

            Luật sư Phạm Quốc Bảo

 

[1] Châu Phi: Cameroon, Democratic Republic of the Congo, Egypt, Ghana, Kenya, Lesotho, Liberia, Nigeria, Senegal, Sierra Leone, South Africa, Sudan, Togo.

Châu Mỹ Latinh: Argentina, Bermuda, Bolivia, Brazil, Canada, Chile, Colombia, Costa Rica, Dominica, Dominican Republic, Ecuador, Guatemala, Guyana, Honduras, Jamaica, Mexico, Netherlands Antilles, Panama, Paraguay, Peru, Trinidad and Tobago, Uruguay, United States of America, Venezuela.

Châu Á: Bangladesh, Hong Kong/China, India, Indonesia, Iran-Islamic Republic of, Israel, Japan, Republic of Korea, Lebanon, Malaysia, Pakistan, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Taiwan/China, Thailand.

Châu Úc: Australia, New Zealand.

Châu Âu; Belgium, Cyprus, Denmark, Finland, France, Germany, Greece, Ireland, Italy, Luxembourg, Netherlands, Norway, Portugal, Spain, Sweden, Switzerland, Turkey, United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland.