Thứ năm, 20/7/2017 | 14:41 GMT+7

Áp dụng tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt” như thế nào cho đúng?

LSVNO - Thực tiễn xử lý tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nhiều năm qua cho thấy, việc xác định hành vi “bỏ trốn để chiếm đoạt” không phức tạp.

102544amvu-an-hanh-chinh-59705e8bc2d03

Ảnh minh họa

Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS 2015), tại Điều 175 quy định về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Điều 140 BLHS năm 1999) đã bỏ tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt”. Mặc dù BLHS 2015 phải lùi hiệu lực thi hành do phát hiện có quá nhiều sai sót về kỹ thuật theo Nghị quyết 144/2016/QH13 của Quốc hội, tuy nhiên, Nghị quyết 144/2016/QH13 lại cho phép áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội của BLHS 2015 kể từ ngày 01/7/2016. Trong các quy định có lợi cho người phạm tội, có việc bỏ tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt”, tức là kể từ ngày 01/7/2016, hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó thì không bị coi là hành vi phạm tội.

Theo Ban soạn thảo BLHS thì việc bỏ tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt” là vì Luật Cư trú quy định người vắng mặt tại nơi cư trú không phải xin phép. Tuy nhiên, ngay sau khi BLHS 2015 được ban hành, các chuyên gia, nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng và dư luận cả nước không đồng tình với việc bỏ tình tiết định tội “bỏ trốn để chiếm đoạt”, vì nó không phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Nhiều địa phương, cơ quan điều tra khi nhận được đơn tố cáo của người dân đã “không dám” khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh truy nã đối tượng bỏ trốn vì “sợ làm oan”, còn nếu đã trót khởi tố thì chuyển sang viện kiểm sát cũng không được phê chuẩn. Nếu đã truy tố ra tòa án thì có tòa án miễn trách nhiệm hình sự vì do BLHS 2015 đã bỏ tình tiết này và theo Nghị quyết 109/2015/QH13 của Quốc hội thì việc bỏ tình tiết định tội này là quy định có lợi cho người phạm tội! Có tòa án thấy vô lý nên tạm hoãn để làm công văn hỏi Tòa án nhân dân tối cao hoặc tìm cớ để trả hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát điều tra bổ sung…

Trước thực trạng này, ngày 12/10/2016, Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn số 306/TANDTC-PC hướng dẫn các tòa án địa phương về việc áp dụng tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” khi giải quyết vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Theo nội dung của công văn này thì có thể hiểu “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” cũng là một dạng hành vi khách quan phản ánh ý thức chủ quan của người phạm tội là “gian dối để chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS 2015, đồng thời cũng thông báo cho các tòa án biết, quá trình rà soát, sửa đổi BLHS 2015, các cơ quan có thẩm quyền cũng đã thống nhất bổ sung lại dấu hiệu này vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015 để làm rõ hơn cấu thành tội phạm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, việc khoản 1 Điều 175 BLHS 2015 không quy định dấu hiệu “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” không phải là quy định có lợi cho người phạm tội để áp dụng từ ngày 01/7/2016.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia, trong đó có giới luật sư thì cho rằng, Tòa án nhân dân tối cao đơn phương ban hành một công văn có tính giải thích luật như vậy là không đúng thẩm quyền, chỉ là giải pháp làm dịu tình hình vì đây chỉ là công văn của Tòa án nhân dân tối cao chứ không phải là nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hay thông tư liên tịch nên không phải là văn bản pháp lý có giá trị bắt buộc chung.

Mặt khác, về nội dung tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt” không thể coi là một dạng hành vi khách quan phản ánh ý thức chủ quan của người phạm tội là “gian dối để chiếm đoạt tài sản”. Cách lý giải này, vừa thiếu cơ sở khoa học, vừa không đúng với lý luận về tội phạm học cũng như các yếu tố cấu thành tội phạm. Nếu như vậy thì Điều 140 BLHS 1999 và Điều 175 BLHS 2015 chẳng cần quy định tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt”. Hơn nữa, tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt” không phải là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của người phạm tội mà đó là dấu hiệu thuộc mặt khách quan.

Ban soạn thảo đã thừa nhận việc bỏ tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” trong tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là sai lầm; các cơ quan tiến hành tố tụng và Ban soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015 đã thống nhất là phải “khôi phục” tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt” vào tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” lại càng chứng tỏ Công văn số 306 của Tòa án nhân dân tối cao có cái gì khiên cưỡng.

Vấn đề đặt ra là, kể từ ngày 01/7/2016, hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản xử lý như thế nào? Nếu viện kiểm sát đã truy tố thì tòa án có thể áp dụng Công văn 306 nói trên để xét xử, cho dù công văn này không phải là nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán. Tuy nhiên, đối với cơ quan điều tra và viện kiểm sát có áp dụng Công văn 306 của Tòa án nhân dân tối cao để khởi tố điều tra và truy tố đối với hành vi bỏ trốn để chiếm đoạt trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không là vấn đề rất cần có ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi chúng ta đang có một khoảng trống về việc áp dụng pháp luật.

Ngay kể cả khi Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015, “phục hồi” lại tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt” thì hiểu như thế nào là “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” cũng là vấn đề không đơn giản.

Hiện nay chưa có văn bản nào của các cơ quan có thẩm quyền giải thích hoặc hướng dẫn thế nào là “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” nên mỗi nơi áp dụng một kiểu. Có nơi, cơ quan điều tra nhận được đơn tố cáo người vay tiền đã bỏ trốn, sau khi xác định đúng là không có mặt tại nơi cư trú đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh truy nã. Nhưng có địa phương không khởi tố và trả lời người tố cáo đó là quan hệ dân sự hoặc cùng lắm là ban hành một quyết định “truy tìm”. Ví dụ: Nguyễn Vi D có nhà hàng kinh doanh ăn uống tại 73 Hoàng Hoa Thám thành phố Vũng Tàu, vay gần một tỷ đồng của ông Võ Thành L nói là để đầu tư, sửa chữa nhà hàng. Sau khi vay được tiền của ông L một tuần, D kêu người đến sang nhượng nhà hàng rồi biến mất, không để lại địa chỉ, điện thoại cũng không liên lạc được. Ông L làm đơn tố cáo hành vi lạm dụng tín nhiệm của D nhưng cơ quan điều tra không khởi tố vụ án, khởi tố bị can mà chỉ ra quyết định “truy tìm”. Đến nay đã hơn một năm vẫn không biết D ở đâu. Nếu ở địa phương khác thì trường hợp này cơ quan điều tra đã khởi tố và ra lệnh truy nã ngay. Nếu bắt được người bỏ trốn thì viện kiểm sát sẽ truy tố và tòa án sẽ kết án bị cáo về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” mà không có gì băn khoăn. Đây là tình trạng khá phổ biến ở một số địa phương khi xử lý hành vi vay mượn tài sản rồi bỏ trốn, làm cho pháp luật không được áp dụng thống nhất, gây bức xúc cho người dân.

Thực tiễn xử lý tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nhiều năm qua cho thấy, việc xác định hành vi “bỏ trốn để chiếm đoạt” không phức tạp. Chỉ cần người vay, mượn tài sản một cách hợp pháp rồi sau đó bỏ đi khỏi nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú), không cho người cho vay biết nơi đang sinh sống, lý do phải bỏ nơi cư trú; tắt điện thoại hoặc thay sim điện thoại, để người cho vay không liên lạc được với người vay thì phải coi là có hành vi bỏ trốn để chiếm đoạt. Các cơ quan tiến hành tố tụng từ trước đến nay vẫn xử lý như vậy. Tuy nhiên, nơi nào xử lý thì bản án cũng không bị kháng nghị giám đốc thẩm, đều thừa nhận việc xử lý như vậy là đúng; nhưng nơi nào không khởi tố, truy tố, xét xử về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thì chưa có quy định nào để buộc các cơ quan tiến hành tố tụng ở đây phải khởi tố, truy tố, xét xử. Đây mới là vấn đề đang rất cần các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn để không còn tình trạng mỗi nơi áp dụng một kiểu.

LS Vũ Hoài An

 

(TC Luật sư Việt Nam, số 4/2017)