Thứ ba, 2/4/2019 | 11:20 GMT+7

Chính sách đối với nhà giáo dưới giác độ thực hiện Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học

LSVNO - “Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”.

Sau khi xác định “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” và đặt trách nhiệm “Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học”, Điều 15 Luật Giáo dục quy định: “Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”. Từ nội dung lớn và chung nhất trên đây, Mục 3 Chương IV Luật Giáo dục, Điều 56 và Chương VIII Luật Giáo dục đại học quy định phải có một số chính sách cụ thể đối với nhà giáo, có thể chia thành các nhóm chính sách cụ thể như sau:

hoc-sinh-truong-tieu-hoc-dinh-tien-hoan-friy-5ca2dee078beb

Ảnh minh họa. Nguồn: thanhnien.vn.

Một là, Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hóa nhà giáo. Nhà giáo được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ” (Điều 80 Luật Giáo dục).

Quy định này có thể hiểu Chính phủ phải xây dựng chính sách để có được khung pháp lý về chuẩn nhà giáo, có chương trình và kế hoạch để thường xuyên đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo, đồng thời phải trực tiếp chịu trách nhiệm về chất lượng của đội ngũ nhà giáo. Luật đã giao Chính phủ trách nhiệm này, vì thế, đội ngũ nhà giáo không đạt chuẩn và chất lượng không bảo đảm thì không đổ lỗi tại “hệ thống chính trị” chung chung hoặc chỉ một chiều đổ lỗi tại giáo viên không chịu phấn đấu rèn luyện.

Thuộc về nhóm này, chính sách đào tạo bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên còn liên quan trực tiếp và đặt ra các yêu cầu cụ thể tại các Điều 70, 72, 73, 75, 76, 77, 78 và 79 của Luật Giáo dục, trong đó chính sách phát triển và nâng cao chất lượng các trường sư phạm có ý nghĩa rất quan trọng, đòi hỏi Chính phủ cần có sự quan tâm đặc biệt, trong đó có chính sách đối với nhà giáo và sinh viên các trường sư phạm.

Hai là, về tiền lương, “Nhà giáo được hưởng tiền lương, phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp thâm niên và các phụ cấp khác theo quy định của Chính phủ” (Điều 81 Luật Giáo dục).

Quy định này được hiểu là Luật đã giao Chính phủ phải bảo đảm để nhà giáo được hưởng không chỉ tiền lương ưu đãi mà cả phụ cấp nghề, phụ cấp thâm niên và các phụ cấp khác để thực hành nghề dạy học, tôn vinh nhà giáo. Theo quy định này của Luật Giáo dục thì chính sách của Chính phủ ban hành phải bảo đảm để nhà giáo có các nguồn thu nhập chính: lương, phụ cấp ưu đãi nghề, phụ cấp thấp niên, các nguồn phụ cấp khác có thể có được.

Bốn loại nguồn thu nhập này cần tách bạch, không thể gộp lại  và cũng không thể không thực hiện, bảo đảm để nhà giáo có điều kiện vật chất tốt nhất để yên tâm thực hành nghề dạy học. Riêng về tiền lương, chúng tôi nhất trí cao với đề nghị của đại biểu Quốc hội Triệu Thế Hùng và một số đại biểu đã phát biểu trước Quốc hội: Chính phủ phải bảo đảm để lương của nhà giáo là một trong những ngạch bậc lương cao nhất trong hệ thống thang bảng lương hành chính sự nghiệp.

Ba là, Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác tại trường chuyên, trường năng khiếu, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học, trường dành cho người tàn tật, khuyết tật, trường giáo dưỡng hoặc các trường chuyên biệt khác được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ” (khoản 1 Điều 82 Luật Giáo dục).

Quy định này được hiểu là ngoài 4 nguồn thu nhập đối với giáo viên như đã nêu trên đây, Chính phủ phải bảo đảm có chính sách ưu đãi riêng biệt đối với giáo viên dạy tại các trường chuyên biệt. Nếu không bảo đảm được các chính sách ưu đãi này, làm ảnh hưởng đến chất lượng và sự phát triển các trường chuyên biệt thì trách nhiệm trước hết thuộc về Chính phủ.

Bốn là, Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được ủy ban nhân dân các cấp tạo điều kiện về chỗ ở, được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ” (khoản 2 Điều 82 Luật Giáo dục).

Quy định này được hiểu là Chính phủ phải có chính sách ưu đãi và phụ cấp riêng đối với nhà giáo công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ủy ban nhân dân các cấp phải tạo điều kiện về nhà ở cho giáo viên công tác tại các vùng này. Tuy nhiên, quy định này của Luật còn rất chung khi xác định trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp, vì thế đòi hỏi quy định của Chính phủ phải xác định cụ thể trách nhiệm của ủy ban nhân dân từng cấp tỉnh, huyện và xã.

Đề nghị nên xác định trọng tâm trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với xây dựng và thực hiện chính sách đối với đội ngũ nhà giáo trên từng địa bàn của tỉnh.

Năm là, Nhà nước có chính sách luân chuyển nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khuyến khích và ưu đãi nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ở vùng thuận lợi đến công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; tạo điều kiện để nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ở vùng này an tâm công tác; tổ chức cho nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở vùng dân tộc thiểu số được học tiếng dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng dạy và học” (khoản 3 Điều 82 Luật Giáo dục).

Chính sách này bao gồm 2 nội dung lớn có ý nghĩa rất quan trọng: chính sách điều động, luân chuyển nhà giáo đến những vùng có nhiều khó khăn, vùng đồng bào dân tộc; chính sách khuyến khích nhà giáo học tiếng dân tộc