Chủ nhật, 10/6/2018 | 07:14 GMT+7

Hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

LSVNO - Theo quy định tại Điều 83 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Bộ luật Hình sự) thì khi quyết định hình phạt, tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại.

doanh-nghiep-5b1c6cee4e07a

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Cũng như đối với người phạm tội, khi quyết định hình phạt, tòa án phải căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại gây ra và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Đặc biệt phải cân nhắc xem việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại như thế nào để quyết định một loại hình phạt, một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội cũng như hậu quả của hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại gây ra.

Theo quy định tại Điều 83 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Bộ luật Hình sự) thì khi quyết định hình phạt, tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại.

So với căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự thì căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại cũng tương tự như nội dung Điều 50. Tuy nhiên, Điều 83 có một căn cứ mà Điều 50 không có, đó là: “Căn cứ việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại”. Nếu việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại trước khi phạm tội cũng như sau khi phạm tội và trước khi xét xử được đánh giá là tốt thì việc tòa án quyết định chọn một loại và mức hình phạt sẽ có lợi hơn so với một pháp nhân thương mại trước khi phạm tội hoặc sau khi phạm tội và trước khi xét xử được đánh giá là không tốt, nếu các tình tiết khác của vụ án tương tự. Việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại được coi như tương tự với tình tiết “nhân thân” của người phạm tội. Ví dụ: công ty A và công ty B đều bị truy tố về tội trốn thuế theo khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự, nhưng công ty A đã bị xử phạt hành chính nhiều lần và không hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, còn công ty B chưa bị xử phạt lần nào và tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án thì tòa án có thể áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với công ty A, còn công ty B chỉ bị đình chỉ hoạt động 01 năm.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

  1. a) Đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm

Tình tiết giảm nhẹ này cũng tương tự như tình tiết giảm nhẹ quy định đối với người phạm tội tại điểm a khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, đối với pháp nhân thương mại, việc ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm có thể do pháp nhân thương mại hoặc lãnh đạo của pháp nhân thương mại thực hiện vì lợi ích của chính pháp nhân thương mại đó. Nếu lãnh đạo của pháp nhân thương mại cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì tình tiết giảm nhẹ này là tình tiết giảm nhẹ “kép”, vừa được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại, vừa được áp dụng đối với người phạm tội của pháp nhân thương mại.

  1. b) Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả

Tình tiết giảm nhẹ này cũng tương tự như tình tiết giảm nhẹ quy định đối với người phạm tội tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Cũng như tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm a, nếu cá nhân người trong pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì cả pháp nhân thương mại và cá nhân người phạm tội đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.

  1. c) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn

Tình tiết giảm nhẹ này cũng tương tự như tình tiết giảm nhẹ quy định đối với người phạm tội tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ cũng tương tự như đối với trường hợp quy định tại điểm a và b.

  1. d) Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án

Tình tiết giảm nhẹ này cũng tương tự như tình tiết giảm nhẹ quy định đối với người phạm tội tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ cũng tương tự như đối với trường hợp quy định tại điểm a, b và c.

đ) Có nhiều đóng góp trong việc thực hiện chính sách xã hội

Đây là tình tiết giảm nhẹ chỉ quy định cho pháp nhân thương mại phạm tội. Nếu so sánh với các tình tiết giảm nhẹ đối với người phạm tội quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự thì tình tiết giảm nhẹ này cũng có điểm tương đồng với các tình tiết quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, đối với người phạm tội thì những thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác là của cá nhân người phạm tội và các thành tích xuất sắc đó phải được ghi nhận bởi các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội bằng các hình thức khen thưởng như giấy khen, bằng khen, huân chương, huy chương và các danh hiệu cao quý khác; còn đối với pháp nhân thương mại chỉ cần có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội là tổ chức kinh tế này (pháp nhân thương mại) có nhiều đóng góp cho việc thực hiện chính sách xã hội như: nhận làm nhà tài trợ cho một giải thi đấu thể thao hoặc biểu diễn nghệ thuật, xây nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt, tặng tiền hoặc hiện vật cho trường học, giúp đỡ các gia đình có công với nước… Có thể việc đóng góp đó được tặng các danh hiệu cao quý, nhưng cũng có thể không được tặng, miễn là cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương xác nhận.

Khi quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội, tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt nữa.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

  1. a) Câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội

Tình tiết phạm tội này cũng tương tự như tình tiết phạm tội có tổ chức đối với người phạm tội, nhưng đối với pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội bao giờ cũng là hành vi có tổ chức rồi nên không cần phải quy định phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nữa. Tuy nhiên, hình thức phạm tội có tổ chức của pháp nhân thương mại ở tình tiết tăng nặng được mở rộng hơn, đó là câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này là tình tiết có tính đặc thù, chỉ đối với pháp nhân thương mại mới có, còn đối với người phạm tội thì dù câu kết với ai để phạm tội cũng là phạm tội có tổ chức.

  1. b) Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng

Tình tiết phạm tội này hoàn toàn giống với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. 

  1. c) Phạm tội 02 lần trở lên

Tình tiết phạm tội này hoàn toàn giống với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. 

  1. d) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm

Tình tiết phạm tội này hoàn toàn giống với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. 

đ) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội

Tình tiết phạm tội này hoàn toàn giống với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội quy định tại điểm l khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

  1. e) Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm

Tình tiết phạm tội này có một phần giống với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội quy định tại điểm m khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đó là dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội.

Phần nội dung còn lại của tình tiết tăng nặng này là dùng thủ đoạn tinh vi nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm. Tuy nhiên, nội dung của thủ đoạn “tinh vi” thì cũng giống như thủ đoạn “tinh vi” để phạm tội, chỉ khác ở mục đích việc dùng thủ đoạn tinh vi là nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.

Khác với các tình tiết giảm nhẹ, đối với các tình tiết tăng nặng thì chỉ tình tiết nào được Bộ luật Hình sự quy định thì tòa án mới được áp dụng, chứ không được tự ý coi những tình tiết khác không được Bộ luật Hình sự quy định để coi là tình tiết tăng nặng đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng nữa.

 Hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Do chủ thể không phải là con người, nên các hình phạt đối với pháp nhân thương mại cũng không thể như con người được. Nhà nước chỉ có thể đóng cửa một doanh nghiệp; đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với một doanh nghiệp; cấm doanh nghiệp kinh doanh hoặc phạt tiền đối với một doanh nghiệp, chứ không thể bỏ tù hoặc cải tạo không giam giữ đối với một doanh nghiệp.

Vì vậy, Nhà nước đã đề ra hình phạt đối với pháp nhân thương mại cũng chủ yếu nhằm tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 33 Bộ luật Hình sự thì pháp nhân thương mại phạm tội có thể bị sử dụng các hình phạt sau:

  1. a) Hình phạt chính bao gồm: phạt tiền; đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

- Phạt tiền đối với pháp nhân thương mại

Theo Điều 77 Bộ luật Hình sự thì phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50 triệu đồng.

Nếu tòa án áp dụng hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại là hình phạt chính thì không được áp dụng hình phạt này là hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại nữa. Tuy nhiên, nếu tòa án áp dụng hình phạt khác (không phải là tiền) là hình phạt chính thì có thể áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại.

Đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt tiền thì mức tiền phạt không dưới 01 triệu đồng, nhưng đối với pháp nhân thương mại, mức tiền phạt thấp nhất không được dưới 50 triệu đồng.

Nếu tòa án áp dụng hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại là phạt tiền thì phải căn cứ vào khung hình phạt tiền đối với tội phạm mà pháp nhân thương mại bị kết án để xác định mức tiền phạt cụ thể. Ví dụ: Công ty A bị kết án về tội trốn thuế quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ 500 triệu đồng. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại gây ra và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, tòa án phạt công ty A 700 triệu đồng. Nếu công ty A có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng thì tòa án có thể phạt dưới 500 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng (mức tiền phạt thấp nhất của khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự) nhưng không được dưới 50 triệu đồng. 

- Đình chỉ hoạt động có thời hạn

Theo quy định tại Điều 78 Bộ luật Hình sự thì đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế.

Căn cứ vào nội dung quy định trên thì pháp nhân thương mại có thể bị tòa án đình chỉ hoạt động một hoặc một số lĩnh vực chứ không đình chỉ toàn bộ hoạt động và các lĩnh vực này pháp nhân thương mại có khả năng khắc phục.

Việc đánh giá và xác định một pháp nhân thương mại có khả năng khắc phục là một việc không dễ. Thông thường, pháp nhân thương mại khi phạm tội bao giờ cũng đưa ra những lý do để cho rằng mình sẽ khắc phục được hậu quả trong một thời gian để không bị tòa án áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Vì vậy, khi áp dụng loại hình phạt này, tòa án cần có những căn cứ, nếu cần phải yêu cầu cơ quan chuyên môn giám định hoặc đến tận nơi để kiểm tra, xác minh xem có đúng là pháp nhân thương mại đó có khả năng khắc phục không. Nếu quan liêu, chỉ nghe báo cáo thì việc áp dụng hình phạt này sẽ không chính xác.

Việc áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với pháp nhân thương mại cần chú ý: chỉ đình chỉ một hoặc một số lĩnh vực chứ không được đình chỉ toàn bộ các lĩnh vực. Tòa án đình chỉ lĩnh vực nào thì phải nhận định lý do vì sao lại đình chỉ.

Khi bị tòa án đình chỉ một hoặc một số lĩnh vực thì các lĩnh vực không bị đình chỉ, pháp nhân thương mại vẫn có quyền tiếp tục hoạt động.

Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm. Vấn đề đặt ra là, nếu pháp nhân thương mại phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì có được áp dụng thời hạn đình chỉ dưới 06 tháng không? Đây là vấn đề chưa được Bộ luật Hình sự quy định cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự đối với người phạm tội thì một người phạm tội nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì có thể được áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, nên đối với pháp nhân thương mại phạm tội mà có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì không có lý do gì lại không được áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

- Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn

Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoàn toàn hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra.

Cũng như trường hợp đình chỉ hoạt động có thời hạn, tòa án chỉ được đình chỉ hoạt động vĩnh viễn một hoặc một số lĩnh vực chứ không được đình chỉ tất cả những lĩnh vực nếu như pháp nhân thương mại chỉ phạm tội có liên quan đến một hoặc một số lĩnh vực.

Khi áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội, tòa án cần căn cứ vào thiệt hại mà pháp nhân thương mại gây ra hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến các lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn mà pháp nhân thương mại không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Pháp nhân thương mại bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn một hoặc một số lĩnh vực vẫn có thể tiếp tục hoạt động các lĩnh vực khác không bị đình chỉ. Nếu pháp nhân thương mại chỉ đăng ký hoạt động một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ thì sau khi bị tòa án đình chỉ hoặc bị tòa án áp dụng hình phạt bổ sung cấm kinh doanh trong một số lĩnh vực, pháp nhân thương mại đó có thể đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiếp tục hoạt động các lĩnh vực khác, chứ không bắt buộc phải giải thể.

Trường hợp pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động (tức là giải thể pháp nhân thương mại đó).

  1. b) Hình phạt bổ sung bao gồm:

- Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định

Cùng với hình phạt chính, tòa án có thể áp dụng hình phạt bổ sung cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội.

Tòa án phải nói rõ trong bản án là cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nào, chứ không thể tuyên chung chung là cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được.

Cho dù tòa án áp dụng hình phạt chính là đình chỉ hoạt động có thời hạn hay đình chỉ hoạt động vĩnh viễn một hoặc một số lĩnh vực thì việc cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định cũng chỉ từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, chứ không được cấm vĩnh viễn, vì đây là hình phạt bổ sung.

- Cấm huy động vốn

Cấm huy động vốn là hình phạt bổ sung được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội.

Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm: cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư; cấm phát hành, chào bán chứng khoán; cấm huy động vốn khách hàng; cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.

Tòa án có thể quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn trên. Tuy nhiên, thời hạn cấm huy động vốn cũng chỉ từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, vì đây là hình phạt bổ sung.

- Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính

Khi tòa án không áp dụng hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại phạm tội là phạt tiền như đình chỉ hoạt động có thời hạn hay đình chỉ hoạt động vĩnh viễn một hoặc một số lĩnh vực thì mới được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung. Nếu đã áp dụng hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại phạm tội là phạt tiền thì không được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung nữa.

Mức phạt tiền đối với pháp nhân thương mại phạm tội cũng phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50 triệu đồng (tương tự như đối với hình phạt chính).

Cũng như đối với người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội thì mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Tổng hợp hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm nhiều tội

Việc tổng hợp hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm nhiều tội cũng tương tự như đối với người phạm tội. Tuy nhiên, các hình phạt đối với pháp nhân thương mại chỉ có ba loại nên việc tổng hợp hình phạt phải căn cứ vào các quy định tại Điều 86 Bộ luật Hình sự.

Theo Điều 86 Bộ luật Hình sự thì việc tổng hợp hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm nhiều tội được thực hiện như sau:

  1. a) Đối với hình phạt chính

- Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung. Hình phạt tiền không tổng hợp với các hình phạt khác;

- Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong cùng lĩnh vực hoặc hình phạt đã tuyên cùng là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong cùng lĩnh vực thì hình phạt chung là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong lĩnh vực đó;

- Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn trong cùng lĩnh vực thì được tổng hợp thành hình phạt chung nhưng không vượt quá 04 năm;

- Nếu trong số các hình phạt đã tuyên có hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của Bộ luật Hình sự thì hình phạt chung là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với toàn bộ hoạt động;

- Nếu các hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn trong các lĩnh vực khác nhau hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong các lĩnh vực khác nhau hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong các lĩnh vực khác nhau thì không tổng hợp, mà pháp nhân thương mại sẽ chấp hành tất cả các hình phạt này.

  1. b) Đối với hình phạt bổ sung

- Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với hình phạt đó. Ví dụ: Công ty A bị tòa án áp dụng hình phạt bổ sung đối với tội buôn lậu và tội trốn thuế là hình phạt cấm huy động vốn thì hình phạt chung bổ sung đối với công ty A là “cấm huy động vốn” và thời hạn cấm không dưới 01 năm và không quá 03 năm.

 Riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền được cộng lại thành hình phạt chung.

- Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì pháp nhân thương mại bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên, chứ không tổng hợp.

Khi áp dụng hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm nhiều tội cần chú ý phân biệt hình phạt với hình thức biểu hiện của hình phạt. Ví dụ: Hình phạt cấm huy động vốn là hình phạt. Còn cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư; cấm phát hành, chào bán chứng khoán; cấm huy động vốn khách hàng; cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản là các hình thức biểu hiện của hình phạt cấm vay vốn, nên không coi đây là khác loại để áp dụng điểm b khoản 2 Điều 86 Bộ luật Hình sự.

Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

Cũng tương tự như đối với người phạm tội, trong trường hợp pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của Bộ luật Hình sự.

Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước về đình chỉ hoạt động có thời hạn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

Khi xét xử một pháp nhân thương mại đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp một pháp nhân thương mại phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì chánh án tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 87 Bộ luật Hình sự.

Miễn hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Bộ luật Hình sự không quy định trường hợp miễn trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, mà chỉ quy định miễn hình phạt, nếu pháp nhân thương mại phạm tội đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra thì có thể được miễn hình phạt.

Như vậy, điều kiện (căn cứ) để pháp nhân thương mại phạm tội được miễn hình phạt khác với điều kiện người phạm tội được miễn hình phạt.

Theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự thì pháp nhân thương mại phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Quy định về miễn hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội khác với trường hợp đối với người phạm tội.

Nếu đối với người phạm tội thì căn cứ để miễn hình phạt chính là nội dung của căn cứ miễn trách nhiệm hình sự nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự, còn đối với pháp nhân thương mại phạm tội chỉ cần có đủ hai điều kiện, đó là: “đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra”, ngoài ra không còn điều kiện nào khác. Cũng không căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Các biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Khi xét xử pháp nhân thương mại phạm tội, ngoài việc áp dụng hình phạt, tòa án có thể quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Các biện pháp tư pháp này bao gồm:

- Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm như: công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội; vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.

- Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi như: trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại gây ra. Nếu gây thiệt hại về tinh thần, thì buộc phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi phạm tội của mình gây ra. Nếu không khôi phục lại tình trạng ban đầu được thì sẽ phải bồi thường bằng vật chất cho người bị hại hoặc công khai xin lỗi.

- Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

Căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, tòa án có thể quyết định buộc pháp nhân thương mại phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả của tội phạm như: buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật; hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm; buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường.

Xóa án tích đối với pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới.

Bộ luật Hình sự không quy định trường hợp xóa án tích đối với pháp nhân thương mại bị kết án phải do tòa án quyết định như đối với người phạm tội và thời gian được xóa án tích cũng ngắn hơn đối với người phạm tội.

 Luật sư Đinh Văn Quế