Thứ năm, 22/11/2018 | 07:30 GMT+7

Hỗ trợ tư vấn và bảo lãnh vốn vay của Nhà nước cho DNNVV ở Việt Nam hiện nay

LSVNO - Hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) được quy định tại Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Điều 13 Chương III Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hỗ trợ tài chính cho SMEs nói chung được quy định duy nhất tại Điều 8 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hỗ trợ tư vấn của nhà nước đối với SMEs       

Hỗ trợ tư vấn của nhà nước đối với SMEs được hiểu là việc nhà nước hỗ trợ một phần chi phí mà SMEs phải bỏ ra để thuê các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp bên ngoài thực hiện tư vấn liên quan đến một sự kiện pháp lý hoặc một dự án cụ thể nào đó[1] của doanh nghiệp. Dưới góc độ kinh tế, việc nhà nước can thiệp vào thị trường dịch vụ tư vấn cho các SMEs là cần thiết vì trong bối cảnh thị trường thông thường, có khá nhiều rào cản để các SMEs tiếp cận được với các dịch vụ tư vấn như tài chính, nhận thức, hiểu biết… Bên cạnh đó, khu vực tư nhân cũng khó có thể cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tư vấn cho SMEs vì khả năng sinh lợi thấp, do đó, cần thiết phải có sự tham gia của nhà nước trong lĩnh vực này.

Sự thất bại của thị trường trong việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tư vấn cho các SMEs tập trung vào vấn đề “thông tin”. Theo đó, các SMEs không có đủ thông tin để đưa ra quyết định họ có cần dịch vụ tư vấn hay không và họ không có đầy đủ thông tin để lựa chọn nhà tư vấn phù hợp (không có thông tin về chất lượng dịch vụ). Điều này có nghĩa, các công ty không sẵn lòng sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh vì họ không đủ chắc chắn về các vấn đề của công ty mình và đồng thời, không thể biết được liệu dịch vụ hỗ trợ do các công ty tư vấn cung cấp có đáng tin cậy và chất lượng không. Như vậy, bất cân xứng thông tin là một thất bại của thị trường trong trường hợp này và đòi hỏi nhà nước phải can thiệp.

dnnvv-5bf5f85ae02f2

Ảnh minh họa.

Ở Việt Nam, hỗ trợ tư vấn được quy định tại Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Điều 13 Chương III Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, các SMEs tiếp cận mạng lưới tư vấn viên trên Cổng thông tin quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trang thông tin điện tử của các bộ, cơ quan ngang bộ để lựa chọn tư vấn viên hoặc tổ chức tư vấn và dịch vụ tư vấn phù hợp nhu cầu của doanh nghiệp.

Ở đây, Nhà nước đã có sự can thiệp nhất định để giải quyết tình trạng bất cân xứng thông tin, nhưng sự can thiệp này có hiệu quả trên thực tế như thế nào? Rõ ràng, mức độ can thiệp mới chỉ đưa ra các quy định mang tính chất hành chính, cấp phát hỗ trợ và các SMEs là bên đi “xin” hỗ trợ mà chưa giải quyết được vấn đề bất cân xứng thông tin, cụ thể như sau:

Về cơ quan thực hiện hỗ trợ tư vấn, theo quy định, SMEs nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ tư vấn tại cơ quan, tổ chức hỗ trợ SMEs. Hồ sơ tư vấn là điều kiện để cơ quan hỗ trợ SMEs xem xét cung cấp dịch vụ hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp. Cơ quan hỗ trợ SMEs được đề cập đến tại Điều 29 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Điều 13 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP, tuy nhiên, các điều luật này chỉ sử dụng một thuật ngữ chung là “cơ quan hỗ trợ SMEs”, còn cụ thể là cơ quan nào thì không có điều khoản nào giải thích và cũng không xác định được cơ quan này thuộc chính quyền trung ương hay chính quyền địa phương hoặc ít nhất, nếu đây là một thuật ngữ chung chỉ các cơ quan thực hiện các chương trình hỗ trợ cho SMEs thì cần thiết phải có điều khoản giải thích rõ. Trong bối cảnh phân cấp giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương ngày càng trở nên rõ ràng thì việc không xác định được cơ quan nào là cơ quan hỗ trợ SMEs là một điều đáng tiếc. Hơn nữa, việc không xác định được cơ quan thực hiện hỗ trợ sẽ gây cản trở cho khả năng tiếp cận hỗ trợ của doanh nghiệp.

Về phạm vi tư vấn, Điều 13 khoản 3 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định: “SMEs được hỗ trợ sử dụng dịch vụ tư vấn (nhưng không bao gồm tư vấn về thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật chuyên ngành) …”. Với quy định này, doanh nghiệp không thể biết được dịch vụ tư vấn được hỗ trợ là những dịch vụ gì. Khảo sát của VCCI[2] cho thấy, một trong những cản trở lớn nhất hiện nay đối với các SMEs chính là các rào cản từ các thủ tục hành chính, bao gồm các giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, thủ tục xuất nhập khẩu, thuế, đất đai… Nếu dịch vụ hỗ trợ không bao gồm những thủ tục hành chính nói trên thì dịch vụ hỗ trợ sẽ bao gồm những dịch vụ gì?

Pháp luật của Liên minh châu Âu cũng quy định các dịch vụ hỗ trợ sẽ không bao gồm các tư vấn liên quan đến thủ tục hành chính bởi giải đáp các thông tin về thủ tục hành chính là một phần trách nhiệm quan trọng của các cơ quan nhà nước[3]. Vì thế, chúng không phải là dạng hỗ trợ. Các dịch vụ tư vấn được hỗ trợ sẽ bao gồm những dịch vụ như các tư vấn về quản trị doanh nghiệp, tư vấn về sản phẩm kinh doanh, về làm thương hiệu cho doanh nghiệp, tư vấn về cải thiện hiệu quả sản xuất…

Có thể thấy, sự không rõ ràng trong việc đưa ra các quy định về phạm vi dịch vụ tư vấn cũng sẽ là rào cản không nhỏ cho các SMEs tiếp cận hỗ trợ. Bởi những vấn đề mà doanh nghiệp đang gặp phải thì lại bị loại khỏi phạm vi dịch vụ tư vấn, còn những loại dịch vụ nào được hỗ trợ thì lại quy định không rõ ràng. Mặt khác, các SMEs ngoài những nhu cầu giải đáp về thủ tục hành chính thì bản thân họ cũng không thể xác định những vấn đề về pháp lý hoặc kinh tế mà doanh nghiệp đang gặp phải, tự họ không thể xác định được những nhu cầu cần hỗ trợ, tư vấn, vì thế, họ rất cần sự hỗ trợ với vai trò như “bà đỡ”, đứng về phía doanh nghiệp, thực sự biết được nhu cầu tư vấn của doanh nghiệp để họ có thể tiếp cận được hỗ trợ của Nhà nước.

Vì thế, điều quan trọng ở đây là phải liệt kê được những dịch vụ nào đã được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công, ví dụ dịch vụ giải đáp thông tin pháp luật, dịch vụ xúc tiến thương mại, dịch vụ xúc tiến quỹ đất đầu tư… đều đã được ít nhiều đề cập trong các văn bản pháp luật khác, để từ đó xác định phạm vi của dịch vụ tư vấn mà SMEs sẽ được hỗ trợ.

Về chủ thể thực hiện tư vấn, mạng lưới tư vấn viên được xây dựng bao gồm tư vấn viên đã và đang hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành và tư vấn viên hình thành mới theo nguyên tắc: đối với cá nhân tư vấn phải đảm bảo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác, trình độ đào tạo, phù hợp và đáp ứng nhu cầu của SMEs; đối với tổ chức phải đảm bảo đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành và phù hợp với nhu cầu của SMEs (khoản 4 Điều 13 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP).

Các nguyên tắc được đặt ra là nhằm bảo đảm và duy trì chất lượng dịch vụ hỗ trợ ở một mức độ nào đó, tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các nguyên tắc trên thì liệu có đủ? Việc thiếu thông tin về chất lượng của dịch vụ cung cấp sẽ là một cản trở để doanh nghiệp tiếp cận hỗ trợ. Khi đó, Nhà nước phải đóng vai trò đảm bảo chất lượng của bên cung cấp dịch vụ tư vấn bởi hơn ai hết, Nhà nước là chủ thể bằng các phương tiện, hệ thống thông tin là người có thể thẩm định và đánh giá được chất lượng tư vấn của bên cung cấp dịch vụ tư vấn, hơn là so với bản thân các SMEs.

Kinh nghiệm ở Anh cho thấy, Chính phủ Anh đã giới thiệu một dịch vụ môi giới, tư vấn và cung cấp thông tin liên kết kinh doanh (Business Link Information, Diagnostic and Brokderage service - IDB)[4] để giải quyết vấn đề trên. Dịch vụ này cung cấp các hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh một cách công bằng, độc lập và toàn diện. Nó giúp các công ty xác định tình trạng của mình và đưa ra nhu cầu hỗ trợ, đồng thời nó kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp. Ở đây, nhà nước chỉ làm 2 việc, đó là cung cấp thông tin và phát triển một cơ chế để xác định chất lượng của dịch vụ do bên cung cấp chuyên nghiệp thực hiện.

Như vậy, các quy định về hỗ trợ tư vấn chưa giải quyết được triệt để vấn đề bất cân xứng thông tin giữa SMEs và bên cung cấp dịch vụ tư vấn. Trong trường hợp này, các quy định cần phải làm rõ vai trò và chức năng trung gian của các cơ quan nhà nước trong việc kết nối giữa SMEs và bên cung cấp dịch vụ, trong đó không chỉ đơn thuần là việc tiếp nhận hồ sơ yêu cầu hỗ trợ mà còn phải bao gồm cả hoạt động tham vấn xác định nhu cầu hỗ trợ, giải quyết hồ sơ hỗ trợ, lựa chọn giới thiệu đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp, thiết lập các tiêu chí tham gia mạng lưới cung cấp dịch vụ tư vấn (trong đó có chỉ số đánh giá về các phản hồi của các khách hàng đã được tư vấn) nhằm bảo đảm năng lực và kinh nghiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia mạng lưới tư vấn. Nói cách khác, các quy trình pháp lý cho việc Nhà nước hỗ trợ tư vấn cho SMEs cần phải đạt được mục tiêu đó là khắc phục hoàn toàn thất bại thị trường về bất cân xứng thông tin trong mối quan hệ hỗ trợ giữa Nhà nước, SMEs và các chủ thể cung cấp dịch vụ tư vấn.

Vấn đề bảo lãnh vốn vay

Đối với thị trường tín dụng nói chung, sự bất cân xứng thông tin giữa ngân hàng và doanh nghiệp là điều nghiêm trọng nhất bởi doanh nghiệp là người hiểu rõ các đặc tính kinh doanh của công ty mình cũng như các nhu cầu vay vốn, trong khi ngân hàng lại không có bất kỳ thông tin gì về doanh nghiệp. Khi đánh giá về một khoản vay, các ngân hàng thường sử dụng các dữ liệu để đánh giá mức độ rủi ro của khoản vay như các thông tin về khách hàng, quản lý, hoạt động kinh doanh, lịch sử tín dụng. Thông thường, các doanh nghiệp cung cấp các báo cáo tài chính, các tài sản thế chấp… như là bảo đảm cho khoản vay. Nhưng sự đánh giá mới chỉ là tương đối. Vì thế, đôi khi các ngân hàng đứng ở vị thế bất lợi hơn khi không có đủ thông tin để đánh giá về khả năng thu hồi của khoản vay. Đối với các SMEs, vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn bởi các SMEs vì có thể đó chỉ là các hoạt động khởi nghiệp, chưa có hoạt động kinh doanh và các tiêu chuẩn kinh doanh cũng chưa có vì đó có thể là một ngành nghề, lĩnh vực hoàn toàn mới; những người quản trị và hoạt động kinh doanh không thể đưa ra bằng chứng cho việc biến các cam kết kinh doanh thành hiện thực. Do đó, để khắc phục sự bất cân xứng thông tin này, ngân hàng cần đến các cơ chế bảo hiểm như là một yếu tố mặc định cho một khoản vay. Đó là lý do ra đời cơ chế bảo lãnh vốn vay của nhà nước dành cho các SMEs.

Bảo lãnh vốn vay được hiểu là sự cam kết bảo lãnh của nhà nước để các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cho các SMEs vay vốn. Đây là một trong những hình thức hỗ trợ chủ yếu của Nhà nước nhằm cải thiện cơ hội tiếp cận tài chính cho SMEs. Khi thực hiện vai trò hỗ trợ tiếp cận tài chính, thất bại của thị trường trong lĩnh vực này chính là sự bất cân xứng thông tin giữa SMEs và ngân hàng.

Ở Việt Nam, hỗ trợ tài chính cho SMEs nói chung được quy định duy nhất tại Điều 8 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, trong từng thời kỳ, Chính phủ