Thứ năm, 22/11/2018 | 07:30 GMT+7

Hỗ trợ tư vấn và bảo lãnh vốn vay của Nhà nước cho DNNVV ở Việt Nam hiện nay

LSVNO - Hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) được quy định tại Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Điều 13 Chương III Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hỗ trợ tài chính cho SMEs nói chung được quy định duy nhất tại Điều 8 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hỗ trợ tư vấn của nhà nước đối với SMEs       

Hỗ trợ tư vấn của nhà nước đối với SMEs được hiểu là việc nhà nước hỗ trợ một phần chi phí mà SMEs phải bỏ ra để thuê các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp bên ngoài thực hiện tư vấn liên quan đến một sự kiện pháp lý hoặc một dự án cụ thể nào đó[1] của doanh nghiệp. Dưới góc độ kinh tế, việc nhà nước can thiệp vào thị trường dịch vụ tư vấn cho các SMEs là cần thiết vì trong bối cảnh thị trường thông thường, có khá nhiều rào cản để các SMEs tiếp cận được với các dịch vụ tư vấn như tài chính, nhận thức, hiểu biết… Bên cạnh đó, khu vực tư nhân cũng khó có thể cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tư vấn cho SMEs vì khả năng sinh lợi thấp, do đó, cần thiết phải có sự tham gia của nhà nước trong lĩnh vực này.

Sự thất bại của thị trường trong việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tư vấn cho các SMEs tập trung vào vấn đề “thông tin”. Theo đó, các SMEs không có đủ thông tin để đưa ra quyết định họ có cần dịch vụ tư vấn hay không và họ không có đầy đủ thông tin để lựa chọn nhà tư vấn phù hợp (không có thông tin về chất lượng dịch vụ). Điều này có nghĩa, các công ty không sẵn lòng sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh vì họ không đủ chắc chắn về các vấn đề của công ty mình và đồng thời, không thể biết được liệu dịch vụ hỗ trợ do các công ty tư vấn cung cấp có đáng tin cậy và chất lượng không. Như vậy, bất cân xứng thông tin là một thất bại của thị trường trong trường hợp này và đòi hỏi nhà nước phải can thiệp.

dnnvv-5bf5f85ae02f2

Ảnh minh họa.

Ở Việt Nam, hỗ trợ tư vấn được quy định tại Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Điều 13 Chương III Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, các SMEs tiếp cận mạng lưới tư vấn viên trên Cổng thông tin quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trang thông tin điện tử của các bộ, cơ quan ngang bộ để lựa chọn tư vấn viên hoặc tổ chức tư vấn và dịch vụ tư vấn phù hợp nhu cầu của doanh nghiệp.

Ở đây, Nhà nước đã có sự can thiệp nhất định để giải quyết tình trạng bất cân xứng thông tin, nhưng sự can thiệp này có hiệu quả trên thực tế như thế nào? Rõ ràng, mức độ can thiệp mới chỉ đưa ra các quy định mang tính chất hành chính, cấp phát hỗ trợ và các SMEs là bên đi “xin” hỗ trợ mà chưa giải quyết được vấn đề bất cân xứng thông tin, cụ thể như sau:

Về cơ quan thực hiện hỗ trợ tư vấn, theo quy định, SMEs nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ tư vấn tại cơ quan, tổ chức hỗ trợ SMEs. Hồ sơ tư vấn là điều kiện để cơ quan hỗ trợ SMEs xem xét cung cấp dịch vụ hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp. Cơ quan hỗ trợ SMEs được đề cập đến tại Điều 29 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Điều 13 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP, tuy nhiên, các điều luật này chỉ sử dụng một thuật ngữ chung là “cơ quan hỗ trợ SMEs”, còn cụ thể là cơ quan nào thì không có điều khoản nào giải thích và cũng không xác định được cơ quan này thuộc chính quyền trung ương hay chính quyền địa phương hoặc ít nhất, nếu đây là một thuật ngữ chung chỉ các cơ quan thực hiện các chương trình hỗ trợ cho SMEs thì cần thiết phải có điều khoản giải thích rõ. Trong bối cảnh phân cấp giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương ngày càng trở nên rõ ràng thì việc không xác định được cơ quan nào là cơ quan hỗ trợ SMEs là một điều đáng tiếc. Hơn nữa, việc không xác định được cơ quan thực hiện hỗ trợ sẽ gây cản trở cho khả năng tiếp cận hỗ trợ của doanh nghiệp.

Về phạm vi tư vấn, Điều 13 khoản 3 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định: “SMEs được hỗ trợ sử dụng dịch vụ tư vấn (nhưng không bao gồm tư vấn về thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật chuyên ngành) …”. Với quy định này, doanh nghiệp không thể biết được dịch vụ tư vấn được hỗ trợ là những dịch vụ gì. Khảo sát của VCCI[2] cho thấy, một trong những cản trở lớn nhất hiện nay đối với các SMEs chính là các rào cản từ các thủ tục hành chính, bao gồm các giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, thủ tục xuất nhập khẩu, thuế, đất đai… Nếu dịch vụ hỗ trợ không bao gồm những thủ tục hành chính nói trên thì dịch vụ hỗ trợ sẽ bao gồm những dịch vụ gì?

Pháp luật của Liên minh châu Âu cũng quy định các dịch vụ hỗ trợ sẽ không bao gồm các tư vấn liên quan đến thủ tục hành chính bởi giải đáp các thông tin về thủ tục hành chính là một phần trách nhiệm quan trọng của các cơ quan nhà nước[3]. Vì thế, chúng không phải là dạng hỗ trợ. Các dịch vụ tư vấn được hỗ trợ sẽ bao gồm những dịch vụ như các tư vấn về quản trị doanh nghiệp, tư vấn về sản phẩm kinh doanh, về làm thương hiệu cho doanh nghiệp, tư vấn về cải thiện hiệu quả sản xuất…

Có thể thấy, sự không rõ ràng trong việc đưa ra các quy định về phạm vi dịch vụ tư vấn cũng sẽ là rào cản không nhỏ cho các SMEs tiếp cận hỗ trợ. Bởi những vấn đề mà doanh nghiệp đang gặp phải thì lại bị loại khỏi phạm vi dịch vụ tư vấn, còn những loại dịch vụ nào được hỗ trợ thì lại quy định không rõ ràng. Mặt khác, các SMEs ngoài những nhu cầu giải đáp về thủ tục hành chính thì bản thân họ cũng không thể xác định những vấn đề về pháp lý hoặc kinh tế mà doanh nghiệp đang gặp phải, tự họ không thể xác định được những nhu cầu cần hỗ trợ, tư vấn, vì thế, họ rất cần sự hỗ trợ với vai trò như “bà đỡ”, đứng về phía doanh nghiệp, thực sự biết được nhu cầu tư vấn của doanh nghiệp để họ có thể tiếp cận được hỗ trợ của Nhà nước.

Vì thế, điều quan trọng ở đây là phải liệt kê được những dịch vụ nào đã được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công, ví dụ dịch vụ giải đáp thông tin pháp luật, dịch vụ xúc tiến thương mại, dịch vụ xúc tiến quỹ đất đầu tư… đều đã được ít nhiều đề cập trong các văn bản pháp luật khác, để từ đó xác định phạm vi của dịch vụ tư vấn mà SMEs sẽ được hỗ trợ.

Về chủ thể thực hiện tư vấn, mạng lưới tư vấn viên được xây dựng bao gồm tư vấn viên đã và đang hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành và tư vấn viên hình thành mới theo nguyên tắc: đối với cá nhân tư vấn phải đảm bảo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác, trình độ đào tạo, phù hợp và đáp ứng nhu cầu của SMEs; đối với tổ chức phải đảm bảo đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành và phù hợp với nhu cầu của SMEs (khoản 4 Điều 13 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP).

Các nguyên tắc được đặt ra là nhằm bảo đảm và duy trì chất lượng dịch vụ hỗ trợ ở một mức độ nào đó, tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các nguyên tắc trên thì liệu có đủ? Việc thiếu thông tin về chất lượng của dịch vụ cung cấp sẽ là một cản trở để doanh nghiệp tiếp cận hỗ trợ. Khi đó, Nhà nước phải đóng vai trò đảm bảo chất lượng của bên cung cấp dịch vụ tư vấn bởi hơn ai hết, Nhà nước là chủ thể bằng các phương tiện, hệ thống thông tin là người có thể thẩm định và đánh giá được chất lượng tư vấn của bên cung cấp dịch vụ tư vấn, hơn là so với bản thân các SMEs.

Kinh nghiệm ở Anh cho thấy, Chính phủ Anh đã giới thiệu một dịch vụ môi giới, tư vấn và cung cấp thông tin liên kết kinh doanh (Business Link Information, Diagnostic and Brokderage service - IDB)[4] để giải quyết vấn đề trên. Dịch vụ này cung cấp các hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh một cách công bằng, độc lập và toàn diện. Nó giúp các công ty xác định tình trạng của mình và đưa ra nhu cầu hỗ trợ, đồng thời nó kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp. Ở đây, nhà nước chỉ làm 2 việc, đó là cung cấp thông tin và phát triển một cơ chế để xác định chất lượng của dịch vụ do bên cung cấp chuyên nghiệp thực hiện.

Như vậy, các quy định về hỗ trợ tư vấn chưa giải quyết được triệt để vấn đề bất cân xứng thông tin giữa SMEs và bên cung cấp dịch vụ tư vấn. Trong trường hợp này, các quy định cần phải làm rõ vai trò và chức năng trung gian của các cơ quan nhà nước trong việc kết nối giữa SMEs và bên cung cấp dịch vụ, trong đó không chỉ đơn thuần là việc tiếp nhận hồ sơ yêu cầu hỗ trợ mà còn phải bao gồm cả hoạt động tham vấn xác định nhu cầu hỗ trợ, giải quyết hồ sơ hỗ trợ, lựa chọn giới thiệu đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp, thiết lập các tiêu chí tham gia mạng lưới cung cấp dịch vụ tư vấn (trong đó có chỉ số đánh giá về các phản hồi của các khách hàng đã được tư vấn) nhằm bảo đảm năng lực và kinh nghiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia mạng lưới tư vấn. Nói cách khác, các quy trình pháp lý cho việc Nhà nước hỗ trợ tư vấn cho SMEs cần phải đạt được mục tiêu đó là khắc phục hoàn toàn thất bại thị trường về bất cân xứng thông tin trong mối quan hệ hỗ trợ giữa Nhà nước, SMEs và các chủ thể cung cấp dịch vụ tư vấn.

Vấn đề bảo lãnh vốn vay

Đối với thị trường tín dụng nói chung, sự bất cân xứng thông tin giữa ngân hàng và doanh nghiệp là điều nghiêm trọng nhất bởi doanh nghiệp là người hiểu rõ các đặc tính kinh doanh của công ty mình cũng như các nhu cầu vay vốn, trong khi ngân hàng lại không có bất kỳ thông tin gì về doanh nghiệp. Khi đánh giá về một khoản vay, các ngân hàng thường sử dụng các dữ liệu để đánh giá mức độ rủi ro của khoản vay như các thông tin về khách hàng, quản lý, hoạt động kinh doanh, lịch sử tín dụng. Thông thường, các doanh nghiệp cung cấp các báo cáo tài chính, các tài sản thế chấp… như là bảo đảm cho khoản vay. Nhưng sự đánh giá mới chỉ là tương đối. Vì thế, đôi khi các ngân hàng đứng ở vị thế bất lợi hơn khi không có đủ thông tin để đánh giá về khả năng thu hồi của khoản vay. Đối với các SMEs, vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn bởi các SMEs vì có thể đó chỉ là các hoạt động khởi nghiệp, chưa có hoạt động kinh doanh và các tiêu chuẩn kinh doanh cũng chưa có vì đó có thể là một ngành nghề, lĩnh vực hoàn toàn mới; những người quản trị và hoạt động kinh doanh không thể đưa ra bằng chứng cho việc biến các cam kết kinh doanh thành hiện thực. Do đó, để khắc phục sự bất cân xứng thông tin này, ngân hàng cần đến các cơ chế bảo hiểm như là một yếu tố mặc định cho một khoản vay. Đó là lý do ra đời cơ chế bảo lãnh vốn vay của nhà nước dành cho các SMEs.

Bảo lãnh vốn vay được hiểu là sự cam kết bảo lãnh của nhà nước để các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cho các SMEs vay vốn. Đây là một trong những hình thức hỗ trợ chủ yếu của Nhà nước nhằm cải thiện cơ hội tiếp cận tài chính cho SMEs. Khi thực hiện vai trò hỗ trợ tiếp cận tài chính, thất bại của thị trường trong lĩnh vực này chính là sự bất cân xứng thông tin giữa SMEs và ngân hàng.

Ở Việt Nam, hỗ trợ tài chính cho SMEs nói chung được quy định duy nhất tại Điều 8 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định chính sách hỗ trợ tổ chức tín dụng tăng dư nợ cho vay đối với SMEs; khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay đối với SMEs dựa trên xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp và biện pháp phù hợp khác; khuyến khích thành lập tổ chức tư vấn độc lập để xếp hạng tín nhiệm SMEs. SMEs được cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, tăng cường năng lực quản trị, kỹ năng quản lý, minh bạch hóa tài chính của doanh nghiệp để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng. SMEs được cấp bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng SMEs.

Quỹ bảo lãnh tín dụng SMEs là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, hoạt động theo quy định tại Nghị định 34/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Quỹ này thực hiện chức năng cấp bảo lãnh tín dụng cho SMEs, dựa trên tài sản bảo đảm hoặc phương án sản xuất, kinh doanh khả thi hoặc xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp. Quỹ bảo lãnh tín dụng SMEs phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết; không được từ chối bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đủ điều kiện được bảo lãnh.

Về điều kiện được cấp bảo lãnh tín dụng, cấp bảo lãnh tín dụng được quy định tại Điều 16 Nghị định 34/2018/NĐ-CP, gồm 5 điều kiện, trong đó, điều đặc biệt là điều kiện về có phương án về vốn chủ sở hữu tối thiểu 20% tham gia dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh tại thời điểm Quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định để xem xét cấp bảo lãnh và yêu cầu về các biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh vay vốn.

Về các biện pháp bảo đảm bảo lãnh hoạt động vay vốn, Điều 25 Nghị định số 34/2018/NĐ-CP quy định về các biện pháp đảm bảo cho hoạt động bảo lãnh vay vốn, bao gồm:

  • Quyền tài sản, tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng hoặc tài sản hiện có của bên thứ ba;
  • Dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng theo đánh giá của Quỹ bảo lãnh tín dụng;
  • Xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng theo đánh giá xếp hạng của Quỹ bảo lãnh tín dụng là doanh nghiệp đảm bảo khả năng trả nợ cho khoản vay tại tổ chức cho vay.

Việc miễn tài sản bảo đảm của Quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ căn cứ vào các tiêu chí: lĩnh vực ngành nghề ưu tiên phát triển của địa phương, điều kiện tài chính của doanh nghiệp, mức độ rủi ro của dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của Quỹ bảo lãnh tín dụng và các tiêu chí khác theo yêu cầu của ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quỹ bảo lãnh tín dụng đánh giá và quyết định việc sử dụng một hoặc nhiều biện pháp nhằm bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh vay vốn và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng. Trong từng trường hợp, bên được bảo lãnh thỏa thuận, thống nhất với Quỹ bảo lãnh tín dụng về biện pháp bảo đảm và ghi cụ thể trong hợp đồng bảo lãnh tín dụng.

Về phạm vi bảo lãnh, 100% khoản vay[5] nhưng không kèm theo bất kỳ nghĩa vụ tài chính nào của doanh nghiệp. Điều này liệu có mâu thuẫn gì với yêu cầu phải có 20% vốn chủ sở hữu đối với dự án xin cấp bảo lãnh tín dụng quy định ở trên.

Như vậy, có thể thấy, các quy định về bảo đảm hoạt động bảo lãnh đã phần nào khắc phục được khó khăn của các SMEs khi tiếp cận tín dụng, đó chính là tài sản bảo đảm. Các SMEs thường có năng lực tài chính yếu, không thể tiếp cận với các gói cho vay thông thường của các ngân hàng thương mại. Vì thế, pháp luật đã cho phép trong trường hợp không có tài sản thì biện pháp bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh có thể là chính dự án đầu tư cấp vốn hoặc là xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp theo đánh giá của Quỹ bảo lãnh doanh nghiệp. Tuy nhiên, mặc dù là một điều khoản có tính chất “nới lỏng” nhưng việc thực hiện chúng lại không phải là điều dễ dàng, cụ thể như sau:

- Xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng theo đánh giá xếp hạng của Quỹ bảo lãnh tín dụng là doanh nghiệp đảm bảo khả năng trả nợ cho khoản vay tại tổ chức cho vay. Tuy nhiên, hiện nay Quỹ bảo lãnh doanh nghiệp chưa ban hành bất kỳ một tiêu chí nào để xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp hoặc vận hành hệ thống đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thị trường dịch vụ xếp hạng tín nhiệm hiện nay ở Việt Nam còn rất sơ khai[6], theo quy định của điều khoản trên thì việc xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp làm cơ sở cho hoạt động bảo lãnh của Chính phủ phải do Quỹ bảo lãnh thực hiện, vì thế doanh nghiệp tư nhân cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm cũng không thể cung cấp dịch vụ. Đồng thời, trong trường hợp Quỹ bảo lãnh tín dụng không thể tự vận hành hệ thống xếp hạng tín nhiệm của riêng mình, thì các quy định pháp luật cũng không quy định rõ xem rằng liệu Quỹ bảo lãnh tín dụng có được phép thỏa thuận với bên thứ ba cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp hay không.

- Về bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh bằng chính dự án đầu tư, theo đó, dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng theo đánh giá của Quỹ bảo lãnh tín dụng. Quỹ bảo lãnh tín dụng có toàn quyền đánh giá với đối với dự án được bảo lãnh vay vốn. Như vậy, việc một dự án có được vay vốn hay không phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình đánh giá, thẩm định của Quỹ bảo lãnh tín dụng, trong khi đó, quá trình đánh giá, thẩm định của Quỹ bảo lãnh tín dụng theo Nghị định số 34/2018/NĐ-CP là một quy trình tương đối khép kín và thiếu những nguyên tắc đảm bảo tính minh bạch, tính độc lập và chịu sự kiểm tra, giám sát… Quy trình đánh giá, thẩm định dự án đầu tư mang nặng tính hành chính cũng chính là rào cản cho việc tiếp cận hỗ trợ tài chính của SMEs. Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ của SMEs là các doanh nghiệp start-up, những dự án khởi nghiệp có tính rủi ro cao nhưng lại rất cần sự hỗ trợ về vốn. Vì thế, ngay tại thời điểm yêu cầu bảo lãnh, dự án đầu tư đã tiềm ẩn nhiều rủi ro và vì thế khó có thể cam kết về tính hiệu quả, khả năng hoàn vốn, trả vốn vay của dự án, do đó, nếu đòi hỏi các dự án này phải có hiệu quả và khả năng trả nợ ngay từ thời điểm vay vốn là một điều không hợp lý.

Kinh nghiệm ở Anh cho thấy, sự can thiệp tốt nhất trong trường hợp này chính là làm giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng do sự bất cân xứng thông tin. Ví dụ, Chính phủ Anh đã thiết lập cơ chế bảo đảm khoản vay cho các doanh nghiệp nhỏ (Small Firms Loan Guarantee Scheme - SFLGS[7]). Qua đó, Chính phủ cam kết bảo đảm cho 75% khoản vay của các ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ mà không thể vay vốn theo các yêu cầu thông thường. Đổi lại sự bảo đảm đó thì những doanh nghiệp vay vốn phải trả một khoản phí bảo hiểm cho Nhà nước (2% một năm). Như vậy, có thể thấy, thông qua cơ chế này thì những rủi ro do thông tin bất cân xứng trong việc hỗ trợ tiếp cận tài chính cho các SMEs đã được chuyển từ các ngân hàng sang cho nhà nước. Vì thế, nhà nước vừa đóng vai trò là kết nối giữa hai bên có nhu cầu, đồng thời vừa là người cung cấp thông tin để giảm thiểu các rủi ro cho cả hai bên tham gia giao dịch.

Để đảm bảo hiệu quả của việc hỗ trợ tiếp cận tài chính, Nhà nước cần thiết xác định vị trí và vai trò trung tâm của Quỹ bảo lãnh tín dụng với vai trò là bên trung gian cung cấp thông tin, kết nối, đồng hành cùng với doanh nghiệp và ngân hàng trong việc thẩm định các dự án để làm cơ sở quyết định cho vay. Đối với các dự án start-up có tính rủi ro cao, đã đến lúc Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý cho sự ra đời của hoạt động đầu tư mạo hiểm, mang tính rủi ro cao và tách khỏi phạm vi bảo lãnh tín dụng thông thường. Đồng thời, bên cạnh việc thụ hưởng chính sách, doanh nghiệp cũng cần phải có nghĩa vụ ngược lại với Nhà nước, nhằm duy trì và nuôi dưỡng nguồn tài chính dành cho các SMEs. Kinh nghiệm của nước Anh là tương đối tốt, buộc các SMEs phải có nghĩa vụ tài chính ngược lại với Nhà nước để góp phần duy trì Quỹ bảo lãnh SMEs.

Thông qua việc phân tích về vai trò của Nhà nước trong hỗ trợ tư vấn và bảo lãnh vốn vay, có thể nhận thấy một vấn đề rất cơ bản trong quá trình “chuyển hóa” những mục tiêu mà Nhà nước mong muốn thành một hệ thống các quy tắc xử sự của các chủ thể có liên quan để đạt được mục tiêu ở Việt Nam, đó là Nhà nước chưa xác định được đâu là thế mạnh của mình để “tận dụng” và đôi khi còn thực hiện cả những hoạt động vốn là thế yếu của mình. Rõ ràng, việc triển khai thực hiện vai trò hỗ trợ khắc phục sự bất cân xứng thông tin của thị trường qua việc hỗ trợ tư vấn và bảo lãnh vốn vay nêu trên đã cho thấy sự “lúng túng” của Nhà nước trong việc xác định những hoạt động nào Nhà nước phải trực tiếp và bắt buộc thực hiện và những hoạt động nào Nhà nước không cần trực tiếp thực hiện. Đồng thời, sự can thiệp đó phải là tương xứng và phải đạt được mục tiêu hỗ trợ. Đòi hỏi này đặt ra yêu cầu, bất kỳ một chính sách hỗ trợ nào của Nhà nước phải được xây dựng và ban hành dựa trên một quy trình xây dựng chính sách hoàn thiện, có thể dự báo được các kết quả sẽ đạt được trên thực tế và so sánh nó với các mục tiêu đã đặt ra.

TS Phạm Thị Hương Lan

[1] Điều 18 của Commission Regulation (EU) No. 2014/651 http://ec.europa.eu/competition/state_aid/studies_reports/sme_handbook.pdf truy cập ngày 20/6/2018

[2] VCCI, Báo cáo “Đánh giá cải cách thủ tục hành chính hải quan: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp năm 2016”,  Báo cáo “Đánh giá cải cách thủ tục hành chính thuế: Mức độ hài lòng của doanh nghiệp 2016”.

[3] Nguyễn Thu Dung, Trợ cấp tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của Liên minh châu Âu và các nội dung Việt Nam có thể tham khảo, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 22 (326) kỳ 2 tháng 11/2016, trang 55.

[4] Business Link Service Initial Guidance for Partners Developing ERDF proposals, http://webarchive.nationalarchives.gov.uk/20120105182604/http://www.yorkshire-forward.com//sites/default/files/documents/Business%20Link%20service%20initial%20guidance%20for%20partners%20developing%20ERDF%20proposals.pdf truy cập ngày 20/6/2018

[5] Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 34/2018/NĐ-CP.

[6] Nghị định số 88/2014/NĐ-CP quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, điều kiện hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm thành lập và hoạt động tại Việt Nam.

[7] Small firm loan guaratee Scheme,  researchbriefings.files.parliament.uk/documents/SN00827/SN00827.pdftruy cập ngày 20/6/2018.