Thứ bảy, 29/6/2019 | 10:14 GMT+7

Khó khăn của doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động khi tham gia hội nhập

LSVNO - Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại của Việt Nam diễn ra rất mạnh mẽ trong những năm qua, bắt đầu là gia nhập WTO và tiếp đó là ký kết hàng loạt các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA). Đến nay, Việt Nam đã ký kết 13 FTA, trong đó 11 FTA đã có hiệu lực và có 3 FTA đang khởi động đàm phán.

Những động thái này thúc đẩy mở cửa nhanh và mạnh thị trường nội địa cho hàng hóa, dịch vụ từ các nước đối tác và sẽ đem đến cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa (NVV) Việt Nam nói riêng những cơ hội mới để mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và cũng là xu thế tất yếu của thời đại.

Mặt khác, cạnh tranh thị trường hàng hóa nội địa cũng là sức ép để các doanh nghiệp tự thích nghi, điều chỉnh, nâng cao năng lực vươn lên.

Về cơ hội, phần lớn các rào cản và điều kiện trong buôn bán đã được cam kết dỡ bỏ, chủ yếu là các hàng rào thuế quan (hầu hết về 0% hoặc dưới 5%) đã mang lại một lợi thế cạnh tranh và triển vọng cho nhiều ngành sản xuất hàng hóa của Việt Nam, kéo theo đó là lợi ích cho một bộ phận người lao động (NLĐ) trong các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu.

Các rào cản về thủ tục pháp lý được giảm thiểu tối đa, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cho NLĐ.

1553479834880-1552273040768-cong-ty-fuji-xerox-900x600-900x600-5d16d6a2099ea

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp thách thức rất lớn, đó là phải đạt yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm, chất lượng lao động, nguyên tắc xuất xứ hàng hóa, an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ), bảo vệ môi trường...

Đồng thời, các doanh nghiệp phải đối mặt với làn sóng đầu tư ồ ạt của nước ngoài vào với mục đích hưởng ưu đãi.

Đặc biệt, lĩnh vực lao động là một trong những thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp NVV hiện nay. Cạnh tranh có thể dẫn tới phá sản và tình trạng NLĐ thất nghiệp sẽ tăng lên.

Chúng ta không còn khả năng duy trì lợi thế về lao động giá rẻ, khi mà nhu cầu về lao động có kỹ năng tăng lên cùng với sự dịch chuyển tự do của lao động, không chỉ trong nước mà cả giữa các nước thành viên và khu vực. Hiện nay, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đại đa số là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.

Đây là điều khó khăn, vì khi mở cửa thị trường rất cần những doanh nghiệp lớn và vừa, để liên kết theo chuỗi, theo mạng, kết nối nền kinh tế Việt Nam với kinh tế toàn cầu khi tham gia hội nhập khu vực và thế giới.

Tham gia FTA, các nước thành viên phải cam kết tuân theo các tiêu chuẩn, quy định về lao động và thừa nhận mối liên hệ giữa quyền của NLĐ với thương mại; quyền tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể của NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ); xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc; cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp.

Các thành viên phải cam kết không nhập khẩu hàng hóa được sản xuất hoặc sử dụng nguyên liệu đầu vào bằng lao động cưỡng bức hoặc lao động trẻ em, quy định mức lương tối thiểu, số giờ làm việc, ATVSLĐ và sức khỏe nghề nghiệp cho NLĐ, bảo vệ môi trường…

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam ước tính là 55,7 triệu người (quý IV/2018), trong đó chỉ có khoảng 20% đã qua đào tạo; khu vực thành thị là 17,9 triệu người (32%); khu vực nông thôn là 37,8 triệu người (68%); lao động nam 29,2 triệu (52,3%); lao động nữ 26,5 triệu (47,7%). Lao động chưa qua đào tạo tập trung phần lớn trong các doanh nghiệp NVV, thuộc các ngành nông nghiệp, dệt may, da giầy, khu vực dịch vụ và lao động tại gia khác…

Ngoài ra, lực lượng lao động của Việt Nam nói chung còn rất yếu kém về ngoại ngữ, kỹ năng làm việc nhóm và hạn chế về những hiểu biết văn hóa các nước khu vực và thế giới. Mặc dù nước ta đang trong thời kỳ dân số vàng, có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động lớn và tỷ lệ thất nghiệp thấp, nhưng lao động có việc làm không chính thức lại chiếm đa số.

Việc thành viên tham gia FTA phải thực thi các nguyên tắc và quyền cơ bản về lao động, NLĐ có nhiều cơ hội cải thiện các quyền lợi hợp pháp của mình về thu nhập, môi trường làm việc, môi trường sống, cơ hội tìm kiếm việc làm mới trong nước hoặc ở các nước thành viên.

Chính cạnh tranh buộc NLĐ phải chủ động nâng cao trình độ ngoại ngữ, kỹ năng tay nghề, tinh thần liên kết, làm việc trong các nhóm lao động đặc thù, ý thức trách nhiệm trong lao động, sản xuất…

Song cạnh tranh cao có thể buộc phải giảm bớt nhân công, nhất là lao động phổ thông để tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động nhờ đổi mới kỹ thuật và quản trị.

Đồng thời do sức cạnh tranh kém, sẽ có nhiều doanh nghiệp NVV phá sản, kể cả trong những ngành mà Việt Nam đang có lợi thế hiện nay như dệt may, chế biến thủy sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm và trồng cây lương thực, cây ăn quả…

Các sản phẩm nông nghiệp, chăn nuôi, thủy hải sản của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và cạnh tranh gay gắt hơn bởi mắc rào cản về các biện pháp vệ sinh dịch tễ, thức ăn chăn nuôi, giống, thuốc thú ý, nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra chủ yếu bị khống chế từ các doanh nghiệp nước ngoài…

Lao động Việt Nam phải chịu những bất lợi do mở cửa thị trường, hàng hóa của các nước, đặc biệt là hàng tiêu dùng nhập khẩu vào, với số lượng ngày càng lớn và đa dạng, với nhiều ưu thế về chất lượng, giá cả và tâm lý thích dùng hàng ngoại của người Việt, sẽ dễ bị hàng ngoại chiếm lĩnh thị trường nội địa, làm cho doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn về mọi mặt, buộc phải thực hiện tái cơ cấu, sắp xếp, thu hẹp sản xuất, lao động bị mất việc làm…

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, thúc đẩy tốc độ di chuyển lao động từ nông thôn tới thành thị và các khu công nghiệp gia tăng, dẫn đến mất cân bằng giữa cung và cầu về lao động. Ngoài ra, nguồn nhân lực của Việt Nam do trình độ chuyên môn, kỹ thuật thấp, không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, sẽ bị thay thế bằng nguồn lao động từ các nước trong khu vực và các nước thành viên.

Đến nay, về cơ bản pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về tiền lương tối thiểu, thời gian làm việc và ATVSLĐ, lao động trẻ em, bảo vệ môi trường… nhưng trên thực tế những chuẩn mực này đang bị vi phạm ở các doanh nghiệp, điều đó dẫn tới việc chúng ta sẽ không được hưởng mức thuế nhập khẩu (0%) từ các nước thành viên nếu không đáp ứng được các tiêu chuẩn theo yêu cầu.

Các vi phạm của doanh nghiệp về lao động vẫn diễn ra thường xuyên, ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực. Thời gian làm việc, đặc biệt là vấn đề tăng ca quá mức tại các doanh nghiệp dệt may, trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn đang diễn ra. Việc bảo đảm ATVSLĐ tại nhiều doanh nghiệp NVV chưa được thực hiện tốt; trang thiết bị, công cụ bảo hộ an toàn còn thiếu, vi phạm về môi trường; các chế tài xử phạt đối với các doanh nghiệp vi phạm về lao động, môi trường của Nhà nước chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn.

Trên thực tế, người lao động hiện nay tìm được việc làm là rất khó khăn, nhiều doanh nghiệp NLĐ muốn được làm thêm nhiều giờ, tăng thêm ca để tăng mức thu nhập. Một ngày làm thêm, sản phẩm được trả bằng 2 ngày làm việc bình thường, điều này dễ dẫn đến NLĐ bất chấp chính sức khỏe của mình, chỉ thấy lợi trước mắt mà chưa thấy hậu quả về sau.

Mặt khác, do nhận thức về các quy định của pháp luật còn hạn chế, họ không biết hoặc không nắm đầy đủ các quyền của mình về lao động, không thể đề xuất, kiến nghị với NSDLĐ.

Nhiều doanh nghiệp, NLĐ tuy biết các quy định của pháp luật, nhưng lại đồng ý thỏa thuận với NSDLĐ và tự nguyện làm thêm giờ vượt quá khả năng tái tạo sức lao động, để có thu nhập và có nhiều cơ hội để được làm việc tại doanh nghiệp…

Đối với NSDLĐ, vì lợi nhuận, để hạn chế chi phí, tận dụng tối đa công suất máy móc, thiết bị, sức lao động, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, họ tìm mọi cách tăng giờ, tăng ca để tăng nguồn thu và sẵn sàng vi phạm pháp luật về lao động. Phần nhiều các doanh nghiệp chưa đủ khả năng, tiềm lực về kinh tế để bảo đảm về an toàn, sức khỏe cho NLĐ.

Bỏ vốn đầu tư, NSDLĐ phải tìm mọi cách thu hồi và nhanh chóng tìm kiếm lợi nhuận cũng là lẽ tất nhiên trong kinh doanh. Họ thường đưa ra rất nhiều lý do, viện cớ kinh tế suy thoái, khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, yêu cầu khách hàng... mà thực tế nguyên nhân chính của tình trạng này là do các doanh nghiệp chưa quan tâm đến quyền lợi của NLĐ, không chú trọng trong việc tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật lao động.

Mặt khác, đối với một số doanh nghiệp, việc vi phạm pháp luật về lao động có thể còn mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp hơn cả là tuân thủ pháp luật. Do chế tài phạt tiền, hình thức xử phạt hành chính được áp dụng đối với các trường hợp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực lao động chưa phù hợp.

Trong khi thực tế, lợi ích thu về từ việc vi phạm pháp luật lao động là rất lớn, những trường hợp doanh nghiệp không tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ cho NLĐ, trốn, nợ đọng tiền bảo hiểm xã hội, không trả đầy đủ tiền làm thêm giờ, tăng ca cho người lao động đã chứng minh cho vấn đề này.

Nếu pháp luật về lao động không chuẩn mực, sẽ dẫn đến những tranh chấp giữa NLĐ với NSDLĐ trong khu vực tư nhân và nước ngoài tăng lên, gắn với hệ quả phá sản, tái cơ cấu kinh tế hoặc vi phạm hợp đồng lao động và điều kiện lao động.

Các doanh nghiệp cần thay đổi tư duy, buộc phải tuân thủ pháp luật để tránh bị điều tra, bị kiện, bị xử phạt, cũng như phải đầu tư nâng cao các yêu cầu về ATLĐ, tiền lương, vệ sinh lao động, cùng với cơ chế giám sát và chế tài khác, những chi phí để xây dựng, phát triển văn hóa doanh nghiệp để được tham gia vào chuỗi cung ứng xuất khẩu khu vực và quốc tế. 

Cùng nguồn vốn, đất đai và tài nguyên, lao động là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của mỗi quốc gia cho hội nhập phát triển. Việt Nam có lực lượng lao động trẻ tiềm năng lớn, tuy nhiên chúng ta cần phải có những điều chỉnh cần thiết, chủ động nâng cao chất lượng, chuẩn bị về mọi mặt để lực lượng lao động có nhiều điều kiện, tận dụng được cơ hội có việc làm, bảo đảm việc làm và tăng thu nhập, phát triển nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng bền vững, cùng với nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm đói nghèo, cải thiện tính minh bạch trong quản lý, điều hành và bảo vệ môi trường.

Trước những thách thức hội nhập, doanh nghiệp cần chủ động đối mặt với thách thức, rủi ro, tập trung phát triển nguồn nhân lực, đầu tư và đổi mới trang thiết bị theo chiều sâu, lao động và chất lượng sản phẩm là ưu tiên số một, xây dựng các chính sách, kế hoạch sản xuất - kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp phù hợp tình hình mới để nâng cao sức mạnh nội lực, đủ sức đối mặt, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, hội nhập vào sân chơi chung của khu vực và quốc tế.

Doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực của người quản lý, doanh nghiệp phải thực sự nhận thức được người lao động là “tài sản, nguồn lực vô giá”, tự giác thực hiện đúng các quy định, bảo đảm cuộc sống NLĐ để họ tin tưởng, nỗ lực cống hiến, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, có thu nhập ổn định, gắn bó với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững.

Đồng thời cần hiểu và nắm vững những yêu cầu ngay cả về quảng cáo, mẫu mã, bao bì, đóng gói, tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, trách nhiệm xã hội… của doanh nghiệp, những yêu cầu này rất cao và khắc nghiệt, nếu không đáp ứng được thì không thể mở rộng xuất khẩu, không thể xây dựng và phát triển doanh nghiệp trong tương lai.

Khắc phục những yếu kém bằng các biện pháp, để tăng cường khả năng cạnh tranh trong thương mại quốc tế, thông qua các công nghệ trực tuyến thương mại điện tử, tiếp cận thị trường và các chế độ chính sách kịp thời, chính xác.

Chính phủ cần phải tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính có hiệu quả hơn nữa; triển khai chính sách hỗ trợ tài chính; đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ; quy hoạch phát triển vùng nguyên phụ liệu; tạo cơ sở hạ tầng cho các ngành đang có lợi thế phát triển bền vững; nâng cao sức cạnh tranh cho hệ thống doanh nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi cho các hiệp hội của doanh nghiệp, ngành nghề hoạt động hiệu quả, phát huy vai trò liên kết doanh nghiệp; thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển; quan tâm đến đào tạo chất lượng lao động nghề và nhân lực trình độ cao.

Doanh nghiệp NVV đang yếu về nguồn lực tài chính, kinh nghiệm thị trường, nguồn nhân lực có chất lượng; đang rất cần được Nhà nước quan tâm hỗ trợ về vốn, công nghiệp phụ trợ, đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật kinh doanh, pháp luật lao động cho người quản lý doanh nghiệp. Những năm qua, mặc dù Nhà nước đã tích cực thu hẹp chức năng, nhiệm vụ, xong ở nhiều địa phương hiện nay vẫn giữ tư duy quản lý đứng trên doanh nghiệp, chỉ chú trọng đến kiểm soát và quản lý chứ chưa thực sự hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp…

Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang cần các thông tin liên liên quan đến FTA. Thời điểm này rất cần những tuyên truyền, trao đổi, đối thoại đầy đủ, chính xác, sâu sắc hơn giữa Chính phủ với doanh nghiệp và các hiệp hội của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần biết các cam kết hội nhập, nắm bắt thông tin, công tác dự báo thị trường để hạn chế tối đa những ảnh hưởng bất lợi từ những biến động của khu vực và thế giới.

Thông tin không chỉ là về hiệp định thương mại Việt Nam đã ký kết, tham gia nói chung, mà còn cả về những chính sách, cải cách hiện hành, cũng như những thay đổi cần thiết trong thời gian tới. Chính sách cần khuyến khích, thúc đẩy tinh thần kinh doanh, sáng tạo cả về tư duy phát triển, năng lực quản trị, đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp NVV, của các tổ chức, cá nhân sản xuất - kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể… trên mọi lĩnh vực; đồng thời cần tăng cường thanh tra, kiểm soát và điều chỉnh các chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử lý kịp thời đối với các trường hợp vi phạm pháp luật kinh doanh, pháp luật lao động.

Đổi mới nhận thức về tổ chức đại diện NSDLĐ, nâng cao vai trò của tổ chức này trong lĩnh vực lao động và trong đời sống xã hội. Tạo điều kiện để yổ chức đại diện NSDLĐ độc lập thực sự, không bị phụ thuộc vào Nhà nước, hoạt động hiệu quả để cộng đồng doanh nghiệp phát triển bền vững, không thể làm ăn như thời bao cấp trước đây.

Tổ chức công đoàn cơ sở, công đoàn ngành cần phải hoạt động độc lập có hiệu quả, không phụ thuộc vào NSDLĐ; thực hiện được chức năng bảo vệ và đại diện quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ; quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp; giáo dục, động viên NLĐ hiểu và chấp hành đúng quy định của pháp luật; tự nâng cao trình độ về mọi mặt, có đủ khả năng tự bảo vệ mình trước những vi phạm của NSDLĐ; ngăn chặn kịp thời những vi phạm của doanh nghiệp.

Có thể nói, hội nhập mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ cho phát triển. Là nước hội nhập muộn, hiện nay kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế đang chuyển đổi, trình độ phát triển, năng lực thực tế của các doanh nghiệp còn ở mức thấp, thể chế kinh tế thị trường đang dần được hoàn thiện, khả năng hoạch định và thực thi pháp luật còn nhiều mặt hạn chế.

Việc thực thi các FTA trong thời gian qua cũng như triển vọng tham gia các FTA thời gian tới là cơ hội đối với cộng đồng doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp NVV của Việt Nam nói riêng, có điều kiện hội nhập sâu rộng hơn, tuy nhiên, sẽ còn rất nhiều khó khăn, thách thức mà chúng ta cần phải vượt qua.

                                                                  LS Trần Văn Chương