Thứ hai, 18/2/2019 | 07:25 GMT+7

Phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Những bất cập từ thực thiễn

LSVNO - Tại điểm g khoản 2 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 quy định: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thẩm phán tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Trình tự, thủ tục thực hiện phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được quy định từ Điều 208 đến điều 211 BLTTDS 2015.

Mục đích của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm xác định yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; những vấn đề đã thống nhất, chưa thống nhất yêu cầu tòa án giải quyết; tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho tòa án và việc gửi tài liệu chứng cứ cho đương sự khác; bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu tòa án thu thập tài liệu chứng cứ; yêu cầu tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.

Quy định hiện hành về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Theo quy định tại khoản 7 Điều 48 BLTTDS 2015, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có nhiệm vụ và quyền hạn tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Khi các bên không hòa giải được thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử, đây có thể coi là bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án. Vì vậy, trước khi tiến hành mở phiên họp kiểm tra và phiên hòa giải, thẩm phán cần phải hoàn tất các nhiệm vụ của mình để làm sáng tỏ nội dung vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về những vấn đề sau đây:

- Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu tòa án giải quyết;

- Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;

- Bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;

- Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.

Việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là bắt buộc, tuy nhiên, trong một số trường hợp luật định, thẩm phán không tiến hành mở phiên hòa giải; hoặc những vụ án không tiến hành hòa giải được. Theo quy định tại Điều 206 BLTTDS 2015, những vụ án dân sự không được hòa giải là những tranh chấp yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước và những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; tuy nhiên, với vụ án mà các bên chỉ có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu thì tòa án vẫn tiến hành hòa giải theo thủ tục chung. Điều 207 BLTTDS 2015 quy định những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được, đó là: bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; một trong các bên đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.

Bản chất của quy định kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là nhằm bảo đảm mọi chứng cứ đều được công khai (trừ trường hợp không được phép công khai) trong quá trình tố tụng;

Hòa giải là để các bên thương lượng, thỏa thuận việc giải quyết tranh chấp.

Trường hợp tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần thì lần hòa giải đầu tiên tòa án phải tiến hành theo đúng trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải quy định tại Điều 210 BLTTDS 2015. Đối với lần hòa giải tiếp theo, tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ khi có tài liệu, chứng cứ mới và ghi vào biên bản hòa giải.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 208 BLTTDS 2015, trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 Bộ luật này thì thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải. Nghĩa là, phiên hòa giải giữa các đương sự có thể sẽ không được diễn ra nhưng phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải được thẩm phán tổ chức.

Thực tiễn thi hành BLTTDS 2015 cho thấy, việc tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ở các tòa án chưa có sự thống nhất, ngay cả trong cùng một tòa án, hoạt động này được các thẩm phán tiến hành cũng khác nhau, nguyên nhân là do chưa có quy định cụ thể theo hướng khi nào thì thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nên thực tiễn hoạt động tố tụng có nhiều trường hợp, sau khi thụ lý vụ án một thời gian ngắn, thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ. Sau đó, tiếp tục thu thập chứng cứ hoặc các đương sự tiếp tục giao nộp chứng cứ khác nhưng thẩm phán không mở phiên họp để tiếp cận công khai những chứng cứ mới này nên đương sự không biết được. Hoặc cũng có trường hợp, ngay lần đầu triệu tập các đương sự trong vụ kiện, lý do được ghi trong giấy triệu tập là “hòa giải”. Thực tế giải quyết các tranh chấp dân sự cho thấy chỉ sau khi tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các đương sự mới có đủ thông tin để quyết định việc có đưa ra yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập. Cũng có trường hợp còn xem nhẹ “bản tự khai” của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vụ án (tuy họ không có yêu cầu độc lập), nhưng nội dung họ trình bày có ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự khác, nhưng thẩm phán lại bỏ qua việc công khai chứng cứ này, vì vậy, đương sự không được tiếp cận. Vậy liệu rằng việc thực hiện không đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ có bị coi là vi phạm nghiêm trọng tố tụng không?

Theo quy định tại khoản 5 Điều 96 BLTTDS 2015 thì khi giao nộp tài liệu, chứng cứ cho tòa án, đương sự phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác. Điều 200 và 201 BLTTDS 2015 quy định đương sự có quyền đưa ra yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập trước thời điểm tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Điểm b khoản 2 Điều 210 BLTTDS 2015 quy định tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, thẩm phán phải hỏi đượng sự về việc gửi chứng cứ cho đương sự khác. Trường hợp đương sự không sao gửi tài liệu cho đương sự khác do không biết, nếu tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đương sự có ý kiến về việc chưa được sao gửi tài liệu chứng cứ thì thẩm phán có tiếp tục tiến hành hòa giải không? Dù biết rõ một bên đương sự vẫn chưa nhận được tài liệu, chứng cứ đó, nhưng thẩm phán vẫn cứ tiến hành hòa giải, như vậy có vi phạm thủ tục tố tụng không?

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải được diễn ra nối tiếp nhau. Trước khi tiến hành phiên họp, thư ký tòa án báo cáo thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia phiên hòa giải: buổi hòa giải chỉ được tiến hành khi có mặt đầy đủ các đương sự, trường hợp vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên hòa giải và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thẩm phán tiến hành phiên hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các bên đương sự có mặt đều đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, nhất là đối với việc “thuận tình ly hôn” hiện nay đang có những ý kiến khác nhau về các bên đương sự đều phải ký tên vào biên bản hòa giải, cho dù trường hợp một bên vợ hoặc chồng có đơn xin vắng mặt suốt quá trình tòa án giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn, đơn xin vắng mặt này là hợp lệ (có chứng thực chữ ký của người vợ hoặc người chồng xin vắng mặt) và trong đơn cam kết không khiếu nại kết quả giải quyết của tòa án. Hơn nữa, bên có mặt tại buổi hòa giải cũng không thay đổi với các nội dung mà vợ chồng đã thống nhất thỏa thuận thể hiện trong đơn và cũng không bổ sung ý kiến gì khác, thì có bắt buộc một bên đương sự đã có đơn xin vắng mặt ký tên vào biên bản hòa giải không? Xoay quanh vấn đề này, hiện có 02 luồng ý kiến trái chiều nhau:

Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, biên bản hòa giải với trường hợp thuận tình ly hôn phải có đầy đủ chữ ký của các bên, kể cả trường hợp có một bên vắng mặt hợp lệ. Việc một bên vắng mặt hợp lệ, tòa án có trách nhiệm gửi biên bản này đến địa chỉ của bên vắng mặt để ký tên. Chỉ khi nào bảo đảm thực hiện đầy đủ thủ tục này, thì tòa án mới có đủ cơ sở ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận thành.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, do tính chất đặc thù của quan hệ hôn nhân và gia đình, mục tiêu hòa giải hướng tới việc đoàn tụ của hai vợ chồng. Trường hợp vợ chồng thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ các vấn đề có tranh chấp trong vụ án thì tòa án sẽ lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành. Việc một bên vợ hoặc chồng vắng mặt hợp lệ tại buổi hòa giải không là lý do làm thay đổi toàn bộ nội dung vợ chồng trước đó đã thỏa thuận và cùng ký tên trong đơn yêu cầu giải quyết thuận tình ly hôn. Do vậy, với trường hợp tại buổi hòa giải bên có mặt không thay đổi, bổ sung ý kiến gì khác với những nội dung mà họ đã thỏa thuận thể hiện trong đơn, bản tự khai thì không cần thiết phải thực hiện thủ tục yêu cầu bên vắng mặt ký tên vào biên bản hòa giải. Vì làm như vậy trong nhiều trường hợp, biên bản hòa giải đó sẽ không có đầy đủ chữ ký của các bên vì đương sự vắng mặt đã thay đổi chỗ thường trú hoặc tạm trú, thậm chí đã đi nước ngoài mà không để lại địa chỉ nơi họ đến. Trong những trường hợp đó, tòa án sẽ có biện pháp nào để có chữ ký của đương sự vắng mặt? Và nếu không có chữ ký của họ, theo loại ý kiến thứ nhất thì tòa án sẽ không thể ban hành quyết định công nhận thuận tình. Và như vậy, việc yêu cầu tòa án giải quyết thuận tình ly hôn của một bên đương sự còn lại sẽ rơi vào bế tắc.

Vấn đề sao gửi tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã nộp cho tòa án cho đương sự khác

Theo quy định tại khoản 5 Điều 96 BLTTDS 2015: “Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác”.

Như đã trình bày, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đạt được hiệu quả cao phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị, kỹ năng, vai trò và kinh nghiệm của thẩm phán. Do vậy, tòa án cần bảo đảm trước khi mở phiên họp đương sự đã biết và được biết các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. BLTTDS hiện hành quy định đương sự giao nộp tài liệu cho tòa án đồng thời phải gửi bản sao các tài liệu chứng cứ cho các đương sự khác.

Hiện nay, nhiều tòa án đã yêu cầu đương sự thực hiện rất tốt quy định việc sao gửi tài liệu, vì đó là phương tiện để bảo đảm cho việc tiếp cận chứng cứ để thực hiện quyền tranh tụng của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, do vậy, đương sự phải gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ cho đương sự khác trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp các bên không gửi tài liệu cho nhau hoặc thời gian gửi sát với ngày mở phiên họp, thậm chí không ít trường hợp ngay tại phiên họp đương sự mới được nhận tài liệu chứng cứ của bên kia, như vậy, rất khó khăn cho các đương sự khác chuẩn bị đưa ra quan điểm, ý kiến, tài liệu chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, điều này có thể làm giảm hiệu quả của công tác hòa giải. Vì vậy, cần yêu cầu người khởi kiện phải có nghĩa vụ gửi các tài liệu chứng cứ cho các đương sự khác ngay từ khi gửi đơn khởi kiện (đối với người khởi kiện) và khi giao nộp tài liệu chứng cứ cho tòa án đồng thời phải chứng minh được việc mình đã gửi cho đương sự khác.

 

Ths. LS Lê Văn Sua