Thứ sáu, 26/1/2018 | 13:59 GMT+7

Quan điểm về hình phạt tử hình trên thế giới và sự vận dụng trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Việc áp dụng hình phạt tử hình không góp phần vào việc làm giảm các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê tội phạm ở một số quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình, cho thấy, việc xóa bỏ hình phạt tử hình không gây ra những tác động tiêu cực với việc phòng ngừa tội phạm.

Các quan điểm về hình phạt tử hình trên thế giới

1.1. Quan điểm nên xóa bỏ hình phạt tử hình

Nhóm quan điểm nên xóa bỏ hình phạt tử hình, đưa ra các lý do, luận cứ trên các tiêu chí sau:

- Về mặt pháp lý, quyền sống là quyền tự nhiên thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người. Và không ai được phép tước đi quyền sống của người khác, cho dù đó là Nhà nước. Do đó, việc duy trì án tử hình đã vi phạm quyền sống - quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người. Để bảo vệ cho quan điểm của mình, họ đã đưa ra các cơ sở pháp lý như: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948, theo đó, “mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân”[1]; hay theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (được viết tắt là ICCPR) thì “mỗi người đều có quyền được sống. Quyền này được pháp luật bảo vệ.”[2]hay “quyền được sống” được khẳng định một cách dứt khoát trong tuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945.

- Về mặt đạo lý, hình phạt tử hình có tính chất “quá tàn khốc” nên có thể coi đó là “sự phản ứng một cách thái quá với những vấn đề con người phức tạp”,“là triệu chứng của một nền văn hóa bạo lực chứ không phải là một phương thuốc cho nền văn hóa đó”[3]. Theo quan điểm của nhóm này, án tử hình không những ảnh hưởng rất lớn đến bản thân người bị kết án và thân nhân của họ, mà đối với những tử tù, nỗi đau thể chất diễn ra rất nhanh khi bị hành quyết, nhưng sự khủng hoảng tinh thần suốt thời gian chờ đợi thi hành án mới khủng khiếp. Đối với gia đình tử tù, nỗi đau tinh thần thậm chí còn đeo đẳng họ đến nhiều năm sau và không chỉ ảnh hưởng đến một thế hệ. Những người theo quan điểm này còn đưa ra khẩu hiệu: “Tại sao chúng ta lại giết những kẻ sát nhân để cho mọi người thấy rằng giết người là sai”[4], hay “lấy oán trả oán thì oán chồng chất”[5].

- Xét về hiệu quả, việc áp dụng hình phạt tử hình không góp phần vào việc làm giảm các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê tội phạm ở một số quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình, cho thấy, việc xóa bỏ hình phạt tử hình không gây ra những tác động tiêu cực với việc phòng ngừa tội phạm. Ví dụ: ở Canada, tỷ lệ phạm tội giết người đã giảm từ 3,09 người trên 100.000 dân vào năm 1975 (năm trước khi xóa bỏ hình phạt tử hình với tội này), xuống còn 2,41 người vào năm 1980, và tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo. Đến năm 2003, sau 27 năm xóa bỏ hình phạt tử hình, tỷ lệ phạm tội này ở Canada chỉ còn 1.72 người trên 100.000 người dân. Tương tự, ngay ở Hoa Kỳ, thống kê của Cục thống kê đưa ra cho thấy ở 36 bang còn duy trì hình phạt tử hình, tỷ lệ phạm tội giết người cao lại cao hơn so với ở các bang mà hình phạt này đã được xóa bỏ hoặc vẫn duy trì nhưng không thường xuyên áp dụng[6].
Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận hình phạt tử hình không có khả năng răn đe người phạm tội. Thường sự răn đe này được suy đoán rằng, mọi người phạm tội ác đều suy tính đến hậu quả mà họ phải gánh chịu, tuy nhiên, trên thực tế khi họ thực hiện tội phạm thì họ đã loại trừ đi khả năng này, hoặc họ vẫn chấp nhận hậu quả pháp lý đó.

Ngoài ra, nhóm quan điểm này cho cho rằng, xóa hình phạt tử hình là tất yếu của thời đại. Trên thế giới, ngày càng có nhiều lãnh thổ, quốc gia, dân tộc xóa bỏ hình phạt tử hình, do đó, dù sớm hay muộn, dù muốn hay không thì chúng ta cũng không thể đi ngược với xu thế tất yếu của thời đại.

1.2. Quan điểm ủng hộ việc duy trì hình phạt tử hình

Những người theo quan điểm ủng hộ việc duy trì hình phạt tử hình đã đưa ra các lập luận để phản bác lại những lập luận của nhóm theo khuynh hướng xóa bỏ hình phạt tử hình, cụ thể:

Thứ nhất, về mặt pháp lý: Hình phạt tử hình không vi phạm đến quyền sống của con người. Trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 có quy định: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân”, tuy nhiên, hiểu một cách hợp lý thì quyền này chỉ được đảm bảo với điều kiện họ không được xâm phạm quyền sống, tự do và an ninh của người khác. Nếu trên cơ sở này, ai đó cho rằng hình phạt tử hình là xâm phạm quyền sống, thì hình phạt tù cũng xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác.

Trong ICCPR cũng không cấm việc áp dụng hình phạt tử hình, cụ thể: “Ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ thì chỉ được phép áp dụng hình phạt tử hình đối với tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào pháp luật hiện hành ở thời điểm thực hiện tội ác và không trái với quy định của Công ước này và Công ước ngăn ngừa tội diệt chủng”[7]. Như vậy, theo Công ước này thì các quốc gia toàn quyền có thể xóa bỏ hoặc vẫn duy trì hình phạt tử hình.

Thứ hai, về mặt đạo lý: Việc áp dụng hình phạt tử hình, nếu bị coi là làm tổn hại phẩm giá của tử tù thì việc không áp dụng hình phạt này cũng có thể bị coi là làm tổn hại đến phẩm giá của nạn nhân. Hay nói cách khác, hình phạt tử hình là hình thức đền bù thích đáng nhất về tâm lý cho những mất mát của nạn nhân. Việc tử hình sẽ mang lại công lý cho nạn nhân và gia đình họ và để ngăn chặn tội phạm, do đó, gián tiếp có tác dụng bảo vệ nền tảng và những giá trị đạo đức trong xã hội.

Thứ ba, xét về hiệu quả của hình phạt: Nếu ai đó viện cớ việc xóa bỏ hình phạt tử hình làm giảm tình hình tội phạm, là không xác đáng. Ở một quốc gia, tình hình tội phạm giảm còn do nhiều yếu tố như: Kinh tế, chính trị, xã hội và ý thức pháp luật tác động. Còn ở các quốc gia khác, hình phạt tử hình vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tội phạm, đặc biệt là các tội ác nghiêm trọng nhất. Trong một cuộc khảo sát của Richard tại một số bang của Mỹ kéo dài 14 năm cho thấy: Bang Florida có 37 trường hợp tử hình, tỷ lệ tội phạm giảm 40,2%, bang Texas có 84 trường hợp tử hình, tỷ lệ giảm 46,1%, bang Goergia có 12 trường hợp tử hình, tỷ lệ tội phạm giảm 44%.... Ở Anh, vào những năm 1920 đến 1930, là nước biết đến với việc áp dụng án tử hình cao nhất (cao hơn Mỹ), khi đó tội giết người ở Anh thấp hơn bất cứ bang nào của Mỹ. Từ khi Anh bỏ hình phạt tử hình, tỷ lệ tội giết người tăng lên gấp đôi và ngày càng tăng theo thời gian[8].

Cuối cùng, việc xóa bỏ hình phạt tử hình không phải là xu thế tất yếu của thời đại. Mặc dù trên thế giới, các quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình chiếm tỷ lệ cao hơn các quốc gia còn duy trì hình phạt này, nhưng trong tình hình chính trị, kinh tế, xã hội bất ổn như hiện nay, có những quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình, sau đó khôi phục lại, như: Năm 2015, Pakistan tuyên bố khôi phục án tử áp dụng với mọi loại tội phạm trong xã hội, trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, với điều kiện không còn có yếu tố nào nữa để bào chữa giảm án và đơn xin ân xá bị tổng thống bác, quy định này vốn bị bãi bỏ từ năm 2008; hay Indonesia, trong hơn 05 năm, kể từ 2008, Indonesia đã bãi bỏ án tử hình. Nhưng từ tháng 10/2014, sau khi lên nắm quyền, tân tổng thống Joko Widodo tuyên bố bất cứ tội phạm nào liên quan đến ma túy đều phải bị xử tử. Thậm chí, nhiều bang của Mỹ cũng từng xóa bỏ hình phạt tử hình sau đó khôi phục lại. Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, chúng ta chưa thể nói xóa bỏ án tử là xu thế tất yếu của thời đại.

xu-ban-5a6ad18823c5a

Ảnh minh họa

Sự vận dụng phù hợp về hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Trên cơ sở học tập kinh nghiệm và kế thừa tinh hoa của luật pháp quốc tế về hình phạt tử hình, đặc biệt, dựa vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước hiện nay, Việt Nam là một trong những nước còn duy trì hình phạt tử hình trong hệ thống pháp luật hình sự của mình.

Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”[9]. Như vậy, Hiến pháp vẫn thừa nhận những hành vi tước đoạt tính mạng của người khác đúng pháp luật như: Phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết[10]... và trong đó có thi hành án tử hình. Tuy nhiên, qua mỗi giai đoạn sửa đổi số lượng các tội danh có mức án tử hình tăng, giảm khác nhau[11]. Có thể thấy, các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam khá tương thích với các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế và phù hợp với điều kiện đất nước[12].

Quy định về hình phạt tử hình được thể hiện một cách khái quát, tập trung tại Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015[13]. Với quy định tại Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta có thể thấy rằng, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với với “tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”, quy định này tương tự như quy định tại ICCPR khi tuyên bố hình phạt tử hình “chỉ được phép áp dụng hình phạt tử hình đối với tội ác nghiêm trọng nhất”. Điều này, nhằm nhấn mạnh các quan tòa chỉ được áp dụng đối với những hành vi, tội ác gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do sự chủ ý của người phạm tội. Tuy nhiên, không phải tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nào cũng áp dụng hình phạt tử hình, theo quy định tại điều này và một số điều trong phần tội phạm cụ thể thì hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với các tội “xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định”[14]Xin được viện dẫn sự giải thích về thuật ngữ “tội phạm nghiêm trọng nhất” được đề cập trong ICCPR cũng như trong văn kiện “các đảm bảo về các quyền của những người bị kết án tử hình” do Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp quốc (ECOSOC) thông qua năm 1984, theo đó, trường hợp này khuyến nghị các quốc gia chỉ được áp dụng hình phạt tử hình trong một số trường hợp đặc biệt. Và những tội phạm sau đây không được xếp vào dạng tội phạm nghiêm trọng nhất để áp dụng hình phạt tử hình như: “Tội phạm kinh tế, trong đó bao gồm tội tham ô; các tội phạm về chính trị; tội trộm cướp; tội bắt cóc nhưng không gây hậu quả chết người; các tội liên quan đến tình dục trái phép, bao gồm tình dục đồng giới và bỏ đạo”.Khuyến nghị này thúc giục các quốc gia còn áp dụng hình phạt tử hình không được áp dụng với các hành vi phi bạo lực.

Quay trở lại với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta vẫn quy định hình phạt tử hình đối với những tội phạm phi bạo lực. Tuy nhiên, quy định này không trái với pháp luật quốc tế, và phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị xã hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Có thể thấy, khi mà Việt Nam đang chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường, không ít các tổ chức, cá nhân vì mục đích lợi nhuận, làm giàu mà đã làm phương hại đặc biệt nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân, đặc biệt xâm phạm đến tính mạng con người, làm mất ổn định chính trị của đất nước. Ngoài ra, có nhiều thế lực thù địch vẫn lăm le đe dọa đến an ninh quốc gia cũng như đe dọa đến hòa bình ở Việt Nam và thế giới, do đó việc quy định trên là hoàn toàn phù hợp.

Luật Hình sự Việt Nam vừa thể hiện tính nghiêm minh, răn đe khi vẫn quy định hình phạt tử hình, nhưng vẫn đảm bảo được tính nhân đạo sâu sắc, tính nhân văn và hướng thiện đối với những người yếu thế, những đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt. Tại khoản 2 Điều 40 đã quy định những đối tượng không được áp dụng hoặc thi hành hình phạt tử hình, đó là: “Đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên”Quy định này hoàn toàn tương thích với quy định của luật pháp quốc tế. Theo quy định của ICCPR thì “không được tuyên án tử hình với người phạm tội dưới 18 tuổi và không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai[15]”. Như vậy, có thể thấy Bộ luật Hình sự Việt Nam còn mở rộng thêm 2 trường hợp: Không tuyên án tử hình đối với phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; và không tuyên án tử hình hoặc thi hành án tử hình đối với phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Quy định này thể hiện tính nhân đạo sâu sắc đối với phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, đối tượng này hay bị tác động tiêu cực về mặt tâm lý cũng như sức khỏe trong khi mang thai và hậu sinh[16], mặt khác nhằm bảo vệ sức khỏe cũng như quyền và lợi ích tốt đẹp nhất cho đứa con.

Một điểm mới mà tác giả thấy sự tiến bộ vượt bậc trong lập pháp hình sự Việt Nam về tính nhân đạo, đó là Bộ luật Hình sự năm 2015 năm 2015 đã bổ sung thêm trường hợp không áp dụng hình phạt hoặc thi hành án tử hình đối với người “đủ 75 tuổi trở lên”.Quy định này không được đề cập trong ICCPR cũng như pháp luật của quốc tế. Đây là độ tuổi (đa số) bị hạn chế về vấn đề sức khỏe cũng như sự minh mẫn trong nhận thức khi họ thực hiện hành vi của mình, do đó Bộ luật Hình sự năm 2015 xem đây là đối tượng đặc biệt cần được quan tâm, bảo vệ và đương nhiên sẽ không áp dụng hình phạt tử hình.

Trong thời gian qua, ở Việt Nam các tội phạm liên quan đến chức vụ, đặc biệt là các tội tham nhũng đã gây ra nhiều hậu quả đặc biệt xã hội, mặc dù những đối tượng này đã nhận được sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật, tuy nhiên, hạn chế lớn nhất khi xử lý các tội phạm này đó là khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra. Ước tính, có những vụ án làm thiệt hại, thất thoát hàng ngàn tỷ đồng, nhưng thực tế thu về vài chục tỷ thậm chí vài tỷ, do đó, để khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra, cũng như nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống nhóm tội phạm này, tại điểm c khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mở rộng thêm đối tượng được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước, không bị áp dụng hình phạt tử hình, mà đáng lẽ ra họ bị áp dụng[17], đó là: “Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”Quy định này, một lần nữa thấy được sự phù hợp trong đường lối xử lý và chính sách hình sự của Việt Nam đối với hình phạt tử hình. Đây là sự cụ thể hóa chính sách hình sự thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 cũng như các Nghị quyết của Bộ Chính trị, từ Nghị quyết số 08/NQ-TW năm 2002 đến Nghị quyết 48/NW-TW năm 2005, và đặc biệt Nghị quyết 49/NQ-TW năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp, theo đó, Bộ luật Hình sự phải xây dựng theo hướng: “Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Từ những đánh giá, phân tích các quan điểm về hình phạt tử hình trên thế giới cũng như các chính sách pháp luật hình sự và quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, tác giả nhận thấy rằng, các quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đi đúng hướng, không trái với luật pháp quốc tế, thậm chí còn thể hiện sự tương thích trong quy định. Phù hợp với xu hướng của quốc tế và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đất nước trong giai đoạn hiện nay. Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng, các chủ thể áp dụng và thực thi pháp luật cần thể hiện sự công tâm, khách quan và cân nhắc để đảm bảo chính xác khi áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội, bởi đây là hình phạt nghiêm khắc nhất, và chúng ta không có cơ hội để sửa sai trong quá trình tố tụng khi đã thi hành án tử đối với người phạm tội. Mặt khác, nhằm phát huy tối đa mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và đem lại một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.

Theo Tạp chí dân chủ và pháp luật

 

[1] Trích Điều 3 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948.
[2] Trích Điều 6.1 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (Công ước có hiệu lực ngày 23/3/1976).
[3] Keith Harries và Derral Cheatwood: Phạm vi của việc hành quyết... Vũng lầy của hình phạt tử hình ở Mỹ, 1997,tr.6.
[4] Đăng Đại, Án tử hình: bỏ hay không bỏ?, Báo tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh phát hành ngày 25/11/2004.
[5] Quan điểm của Phật giáo.
[6] Xem: United Nations Human Rights – Office of hight Commissioner: “Moving away from the death panalty, lesson from National expriences”, New York 2012, tr. 18,22.
[7] Điều 6.2 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966.
[8] Phạm Văn Beo, một số suy nghĩ về hình phạt tử hình, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2002.
[9] Điều 19 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
[10] Xem thêm: Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự - Chương IV, Bộ luật Hình sự năm 2015.
[11] Ví dụ: Bộ luật Hình sự năm 1985 có 29 tội danh áp dụng hình phạt tử hình, nhưng qua 4 lần sửa đổi, đến Bộ luật Hình sự năm 1999 đã tăng lên 44 tội danh, đến năm lần sửa đổi năm 2009 còn lại 22 tội danh và hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ quy định 18 tội danh quy định hình phạt tử hình.
[12] Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin mạnh dạn theo quan điểm của nhóm vẫn duy trì hình phạt tử hình.
[13] Xem: Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[14]Một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác như: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; tộisản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 421); tội chống loài người (Điều 422); tội phạm chiến tranh (Điều 423).
[15] Khoản 5 Điều 6 của ICCPR.
[16]Theo tác giả hậu sinh được hiểu là thời gian đầu, sau khi sinh con của phụ nữ.
[17] Người phạm tội đã bị tuyên hình phạt tử hình đối với tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, nhưng khi thi hành án thì họ đáp ứng được điều kiện tại điểm c khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015.