Thứ năm, 4/4/2019 | 19:17 GMT+7

Khuyến khích hòa giải, đối thoại các vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính

LSVNO - Tòa án nhân dân tối cao đang soạn thảo Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án trong đó nêu rõ chính sách của Nhà nước là khuyến khích các bên giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính bằng hình thức hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định những nguyên tắc cơ bản, phạm vi, chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; tổ chức, hoạt động của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại; quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên, Đối thoại viên; trình tự, thủ tục, xử lý kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án,...

Phạm vi hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện đối với các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự), khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các bên đồng ý hòa giải, đối thoại tại Tòa án trước khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc.

54514806-2380501998860940-8081355767745085440-n-5ca5f4f7b2034

Ảnh minh họa. Nguồn: LS. Trường Thành. 

Đối với nguyên tắc hòa giải, đối thoại, các bên tự nguyện tham gia hòa giải, đối thoại, nội dung thỏa thuận hòa giải, đối thoại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

Về bảo mật thông tin, cơ quan, tổ chức, cá nhân không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại, trừ khi có sự đồng ý trước của bên đã cung cấp thông tin; không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại, trừ trường hợp lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy định tại Điều 32 của Luật này và ghi chép của Hòa giải viên, Đối thoại viên phục vụ cho việc tiến hành hòa giải, đối thoại.

Chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án: Khuyến khích các bên giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính bằng hình thức hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Khuyến khích những người đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Luật này làm Hòa giải viên, Đối thoại viên.

Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải, đối thoại có thể yêu cầu Hòa giải viên, Đối thoại viên giữ bí mật những thông tin do mình cung cấp; Bày tỏ ý chí, thỏa thuận về nội dung hòa giải, đối thoại; Yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành; Yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện các nội dung đã hòa giải thành, đối thoại thành.

Tham gia hòa giải, đối thoại với tinh thần thiện chí, hợp tác để thúc đẩy quá trình hòa giải, đối thoại đạt kết quả tích cực; trình bày chính xác tình tiết, nội dung của vụ việc và cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc theo yêu cầu của Hòa giải viên, Đối thoại viên;

Chịu trách nhiệm về tính xác thực của các tài liệu, chứng cứ cung cấp trong quá trình hòa giải, đối thoại, khi yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành. Trường hợp cung cấp tài liệu, chứng cứ không đúng sự thật thì thỏa thuận hòa giải thành, đối thoại thành đương nhiên vô hiệu; nếu gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật;

Khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính, Tòa án vào sổ nhận đơn và xem xét chuyển ngay đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại để phân công Hòa giải viên, Đối thoại viên. Đồng thời, thông báo cho các bên liên quan biết trong trường hợp vụ việc có đủ các điều kiện sau đây theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.

Thời hạn hòa giải, đối thoại không quá 20 ngày, kể từ ngày Hòa giải viên, Đối thoại viên được phân công. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn này có thể được kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

Luật này quy định, điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành do Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành khi có đủ các điều kiện sau: Có yêu cầu của một trong các bên; Có biên bản ghi nhận hòa giải thành; Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý; Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

Đoàn Vĩnh