Thứ ba, 31/7/2018 | 08:12 GMT+7

Thực tiễn thi hành BLHS 2015: Phạt tù người dưới 18 tuổi là không phù hợp

LSVN0- Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 có nhiều quy định mới rất có lợi cho người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” (khoản 1 Điều 91) và nguyên tắc: “Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa” (khoản 6 Điều 91)…

Hình ảnh có liên quan

Ảnh minh họa.

Nhưng thực tiễn xét xử trong thời gian gần đây cho thấy tòa án vẫn chưa quán triệt và thực hiện tinh thần có lợi của BLHS mới. Có những bản án vẫn thiên về hình phạt tù quá nghiêm khắc, gây bất lợi đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi. Nhiều vụ bị cáo (BC), luật sư bào chữa theo chỉ định đã có kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) có quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, đề nghị áp dụng quy định có lợi nhất cho người dưới 18 tuổi theo quy định của  BLHS năm 2015.

Chúng tôi xin nêu một vài vụ án cụ thể để thấy việc áp dụng pháp luật hình sự không đúng trong thực tiễn xét xử.

Vụ thứ nhất: Khoảng 1 giờ ngày 12/4/2014, tại TP. Nha Trang, đối tượng T. (sinh ngày 15/8/1997) và Đ. sinh ngày 07/10/1999 đã trộm cắp 2 xe máy (theo kết luận định giá tài sản được thực hiện vào tháng 11/2017, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.338.000 đồng). Do đối tượng Đ. khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chưa đủ 16 tuổi, nên tháng 4/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Nha Trang đã ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Đ., với hình thức “cảnh cáo”.
Đây là vụ đồng phạm giản đơn. Hai đối tượng thực hiện hành vi trộm đều là người chưa thành niên (một chưa đủ 16 tuổi - chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, một đối tượng trên 16 tuổi). Công an đã thu giữ vật chứng ngay tại thời điểm đó, tài sản chiếm đoạt giá trị không lớn. Thế nhưng, không hiểu sao vụ việc bị ngâm đến hơn 3 năm sau mới khởi tố điều tra.

Tháng 11/2017, Công an TP. Nha Trang khởi tố vụ án, khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú đối với T. Tháng 01/2018, VKSND TP. Nha Trang có cáo trạng truy tố  BC T. theo khoản 1 Điều 138  BLHS  năm 1999. Ngày 07/02/2018, TAND TP. Nha Trang đã xử phạt BC T. 4 tháng tù.

Ngày 08/02/2018, BC kháng cáo đề nghị tòa án cấp phúc thẩm áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm xử vào tháng 5/2018, đại diện VKSND tỉnh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của BC, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho BC T.. Theo Hội đồng xét xử phúc thẩm, BC có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi; thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả cho người bị hại. Mặc khác, chính sách hình sự của BLHS hiện hành đã có sự thay đổi theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm cho người dưới 18 tuổi phạm tội. Do đó, không cần cách ly xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục BC. Từ đó, tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên sửa một phần bản án sơ thẩm, tuyên phạt BC 4 tháng tù, cho BC được hưởng án treo.

Vụ thứ hai: Vụ Trần Minh V. (sinh năm 2001) bị truy tố, xét xử về “Trộm cắp tài sản”.

Tóm  tắt nội dung vụ án: Khoảng 12 giờ ngày 03/01/2018, V. là thợ sắt được một nhà thầu thuê nhân viên nhà thầu K. vào phòng thay đồ của nhân viên thuộc một khu du lịch ở Vĩnh Nguyên, Nha Trang để uống nước. Thấy có một chiếc điện thoại (trị giá gần 5 triệu đồng) để trên bàn không người trông coi, V. lén lút lấy và đem giấu tại nhà kho của khu nhà thầu. Sau đó, chủ tài sản phát hiện, báo nhân viên an ninh khu du lịch. Qua rà soát camera, nhân viên an ninh đã phát hiện ra V. Quá trình làm việc, V. đã khai nhận hành vi phạm tội. Ngày 23/3/2018, VKSND TP. Nha Trang đã truy tố BC về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173  BLHS năm 2015.

Do V. phạm tội ở lứa tuổi dưới 18 tuổi (mới 16 tuổi, 6 tháng, 1 ngày) nên các cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định luật sư bào chữa cho BC. Tại phiên tòa sơ  thẩm ngày 27/4/2018,  TAND  TP. Nha Trang đã quyết định áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 91 và Điều 101 BLHS  phạt BC 4 tháng tù.

Nhận thấy hình phạt tù sơ thẩm quá nghiêm khắc, trong thời hạn luật định, luật sư bào chữa theo yêu cầu của tòa án đã có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Đồng tình quan điểm của luật sư, qua công tác giám sát bản án sơ thẩm, Viện trưởng VKSND tỉnh nhận thấy, BC phạm tội mới 16 tuổi 2 tháng 1 ngày, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản có giá trị không lớn, nhưng Hội đồng xét xử sơ thẩm không áp dụng điểm h, khoản 1 Điều 51 BLHS  năm 2015 và tuyên phạt 4 tháng tù đối với BC là quá nghiêm khắc và gây bất lợi cho BC.

Thấy rằng BC có nơi ở và ổn định, không cần thiết cách ly BC ra khỏi xã hội cũng đủ giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Ngày 25/5/2018, Viện trưởng VKSND tỉnh đã quyết định kháng nghị, đề nghị TAND tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm theo hướng  áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với BC...

Ngày 30/7/2018, TAND tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án này. Tại tòa, đại diện VKSND tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên nội dung quyết định kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định cấp sơ thẩm chưa xem xét tình tiết tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã trả lại tài sản cho người bị hại là thiếu sót. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ chấp nhận một phần kháng cáo của luật sư bào chữa và một phần kháng nghị của VKS, tuyên sửa án sơ thẩm,giảm cho bị cáo một tháng tù và cho BC hưởng án treo.

 Đại Hưng

 

Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91 BLHS năm 2015)

1. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ Luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các Điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ Luật này;

b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ Luật này, trừ tội phạm quy định tại các Điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251và 252 của Bộ Luật này;

c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.

3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

4. Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.

5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

6. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.

Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

7. Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.


Nguyên tắc tiến hành tố tụng (Điều 414 BLTTHS 2015)

1. Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi.

2. Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi.

3. Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, Ðoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt.

4. Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi.

5. Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi.

6. Bảo đảm các nguyên tắc xử lý của Bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

7. Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.