Chủ nhật, 14/10/2018 | 07:26 GMT+7

Thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long hại hay lợi?

LSVNO – TS. Bùi Đạt Trâm ở Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng khoa học công nghệ Thủy văn và Môi trường tại TP. Hồ Chí Minh, vừa có bài về quá trình phát triển thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Ông viết bài này vì đang diễn ra tranh luận quanh dự án cống Cái Lớn-Cái Bé, một số ý kiến đánh giá hệ thống thủy lợi đồng bằng mấy chục năm qua chủ yếu gây hại.

 cl-5bc28cc9e4637

Mùa này lũ đã tràn đồng vùng đầu nguồn sông Cửu Long.

Sự nghiệp thủy lợi từ thời Nguyễn

Bài viết được TS. Bùi Đạt Trâm gửi đến nhiều địa phương vùng ĐBSCL và một số nhà khoa học “gắn bó qua nhiều thế hệ với đồng bằng”. Đầu bài viết, ông “đề nghị giới khoa học có liên quan nên đón nhận một cách có sàng lọc, khách quan và khoa học các ý kiến phản biện của các anh: Nguyễn Đức Thắng, Hồ Dũng, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Ngọc Trân, nhóm Mekong Đại học Cần Thơ mà tôi xin phép gọi chung là Nhóm DELTARCL”.

Theo ông, ý kiến của các thành viên DELTARCL có nhiều điểm tương đồng tích cực, song cũng có những ý kiến võ đoán, cực đoan khi cho rằng: “Công trình phát triển tự huỷ /self-destructive development ngay nơi ĐBSCL trong bốn thập niên qua với những hệ luỵ tích luỹ tác hại nghiêm trọng trên tài nguyên và sự sống còn của cả một vùng châu thổ cuối nguồn Sông Mekong. Điển hình có thể kể, từ sau 1975, xây đê đắp đập chắn lũ hệ thống đê bao để mở rộng khu làm lúa ba vụ làm mất 2 túi nước thiên nhiên khu Tứ giác Long Xuyên và vùng trũng Đồng Tháp Mười”. Ông Trâm viết bài phản biện nội dung này và mong tiếp tục trao đổi thẳng thắn trên truyền thông.

­­Bài viết của ông Trâm hệ thống lại sự nghiệp thủy lợi vùng ngập lụt ĐBSCL từ thời nhà Nguyễn tới nay. Theo đó, cho đến năm 1975, “địa bàn trọng điểm các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An đã giải quyết rất thành công bước đầu những vấn đề cơ bản nhất của bài toán kiệt mùa khô, lũ mùa mưa, phân bố dân cư, mở mang giao thông, phát triển sản xuất bằng sự nghiệp thủy lợi vĩ đại: Đào hệ thống kênh trục từ sông Hậu thông nối ra biển Tây, từ sông Tiền thông nối với hệ thống sông Vàm Cỏ, từ sông Hậu thông nối với sông Tiền”.

Còn từ năm 1975 đến nay, ông Trâm đánh giá, khoa học thủy lợi ĐBSCL đã đúng đắn khi thống nhất không làm đê quốc gia dọc sông Tiền và sông Hậu; đào hệ thống kênh trục như Chắc Năng Gù, Mười Châu Phú, T5, T6, Hồng Ngự chuyển tải nước ngọt từ sông Tiền-sông Hậu vào các vùng xa; và đào tiếp hệ thống kênh nhỏ địa phương tạo mạng lưới thủy lợi chia đồng đất bao la vùng ngập lụt thành các ô đồng ruộng từ vài trăm đến dăm ngàn héc-ta hợp lý cho sản xuất và bố trí dân cư. “Những vấn đề trên chắc là nhóm DELTARCL nhất trí 100%”, ông Trâm nhấn mạnh.

Hai túi nước thiên nhiên

Còn vấn đề nhóm DELTARCL cho rằng: “Xây đê đắp đập chắn lũ hệ thống đê bao để mở rộng khu làm lúa ba vụ làm mất 2 túi nước thiên nhiên khu Tứ Giác Long Xuyên và vùng trũng Đồng Tháp Mười”. Bài viết của ông Trâm “trình bày những cơ sở khoa học của vấn đề”.

Ông Trâm lược lại nhiều công trình nghiên cứu cơ bản của Ủy ban Quốc tế sông Mekong giai đoạn 1960-1970 và về sau, trong đó, nhiều công trình từ năm 1978 đến 2008 mà bản thân ông trực tiếp tham gia. Theo ông, kết quả chung nhất là xác định các quy luật cơ bản và đặc thù để rút ra được những đặc điểm khái quát của vùng ngập lụt ĐBSCL. Chẳng hạn, xác định được tổng lượng dòng chảy hàng năm của sông Mekong về ĐBSCL khoảng 500 tỷ m3, mùa lũ chiếm trên 400 tỷ m3 (80%); mùa mưa tập trung 90% lượng mưa cả năm; tạo ra hai thái cực tương phản nhau cao độ như mùa mưa ngập lụt mênh mông, mùa khô lại cạn kiệt làm ruộng đồng nứt nẻ. Nên “hồ chứa nước lũ tự nhiên Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười không phải là ngon xơi cho dù là xơi theo kiểu tự nhiên trời ban cho như cây lúa nổi, con cá linh, cây sen, bông súng” mà muốn làm nông nghiệp văn minh thì phải làm thủy lợi.

Đặc biệt: “Túi nước thiên nhiên khu Tứ giác Long Xuyên và vùng trũng Đồng Tháp Mười nếu cứ để nước lũ chảy tràn tự nhiên triền miên năm này qua năm nọ, đời này nối tiếp đời khác, thì chắc chắn sẽ đến ngày bị sa mạc hóa, đá ong hóa, vì dòng lũ chảy tràn sẽ bào mòn, hòa tan những vi lượng quý hiếm tạo ra đất tiêu dần ra biển, đến khi đất không còn là đất nữa. Khoảng năm 1930-1940, các chủ đồn điền người Pháp đã phát hiện ra dấu hiệu sa mạc hóa trong Tứ giác Long Xuyên; trên thế giới một số lưu vực sông vùng Trung Đông và Châu Phi bị sa mạc hóa do để tiêu nước quá mức triền miên trên bề mặt châu thổ,.. là những minh chứng điển hình”.

Đê bao từ đầu vụ lên chính vụ

Cùng với thách thức của tăng dân số, cuộc sống đã nghĩ ra những phương thức khai thác tài nguyên ngày càng hiệu quả cao hơn, đáp ứng được yêu cầu mở rộng không gian xây dựng hạ tầng cơ sở, bảo vệ tính mạng, phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường sống trong vùng ngập lụt ĐBSCL. Đó chính là việc đắp đê bao phòng lũ đầu mùa của một ấp ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang trong trận lũ lịch sử năm 1978. Đê bao đắp lên bảo vệ vụ sản xuất hè thu, tính từ mặt ruộng chỉ cao 1,5 – 3 m tùy vị trí, vượt đỉnh lũ đầu mùa trong tháng 7 và 8. Đến tháng 9, 10 nước lũ bang đồng, nhấn chìm hệ thống đê bao.

Từ kinh nghiệm của một ấp, các nhà khoa học vào cuộc tính toán đưa ra những khuyến cáo cụ thể để hệ thống đê bao phòng lũ đầu mùa phát triển nhanh, đến năm 2000 cơ bản phủ kín vùng ngập lụt ĐBSCL. Hệ thống đê bao dựa vào các tuyến đường, bờ sông, bờ kênh có sẵn để khoanh vùng vài trăm hoặc dăm ngàn héc-ta, tuyệt đối không động chạm đến đầu vào và đầu ra của hệ thống sông rạch. Kết quả ở đây, theo ông Trâm: “Nông nghiệp cán đích tích lũy đủ độ đảm bảo làm nền tảng vững chắc cho đất nước chuyển mạnh dần sang thời kỳ phát triển công nghiệp”.

Tuy nhiên, hệ thống đê bao phòng lũ đầu mùa bảo vệ vụ hè thu cũng xuất hiện tồn tại lớn rất khó xử lý, sau mỗi mùa lũ, đê bị bào mòn xuống cấp nặng nề đến mức thiếu đất tu bổ đê. Để giải quyết khó khăn này, hệ thống đê bao phòng lũ đầu mùa được lên thành hệ thống đê khép kín phòng lũ chính vụ bảo vệ sản xuất quanh năm.

Khi một vùng rộng lớn ruộng đồng được đê bao khép kín ngăn lũ thì dòng nước lũ trên sông chính có cao thêm và phù sa có bị cạn kiệt trên đồng ruộng hay không? Đương nhiên là có nhưng mức thì theo ông Trâm là không quá lớn. Bởi vì, có trên 90% lượng nước chảy trong sông-kênh-rạch, chỉ khoảng 8% chảy băng đồng. Kết quả tính toán mô phỏng cho thấy, với mật độ sông-kênh-rạch tới 0,45 km/km2 phân bố đều, nước lũ khi bị hạn chế chảy băng đồng chỉ có khả năng dâng mực nước dọc sông chính thêm tối đa 15 cm.

Còn phù sa, cũng có tới gần 90% được chuyển tải bởi lòng sông-kênh-rạch ra biển, chỉ khoảng dưới 10% chảy tràn vào đồng ruộng. “So với dòng phù sa lơ lửng sông Hồng, dòng phù sa lơ lửng sông Cửu Long có hàm lượng nhỏ hơn rất nhiều, song bù lại có tổng lượng lớn hơn nhiều (do có tổng lượng dòng chảy lớn); cấp phối hạt mịn hơn, và đặc biệt có thành phần hóa học bổ dưỡng cho đất vượt trội hơn. Do đó khi có hệ thống đê bao khép kín, có thể dễ dàng chủ động lấy nước phù sa trực tiếp từ sông kênh qua hệ thống cống và kênh dẫn nội đồng vào các thời gian hợp lý nhất để tưới bồi đắp cho đồng ruộng”, ông Trâm viết.

Cụm và tuyến dân cư vượt lũ

Ông Trâm cho biết thêm, nhờ tính toán của các chuyên gia nhiều lĩnh vực mà dự án thủy lợi ở huyện Chợ Mới (An Giang) đã bỏ phương án đắp đê bao khép kín thành 02 khu vực, để thực hiện nâng cấp hệ thống đê bao phòng lũ đầu mùa. Do đó, huyện Chợ Mới có khoảng 50 tiểu vùng được đê bao bảo vệ. Dự án “điều khiển lũ Bắc Vàm Nao” do Chính phủ Úc thiết kế và tài trợ để bảo vệ khoảng 27.000 ha đất canh tác tự nhiên ở huyện Phú Tân (An Giang). Dự án thiết kế hệ thống đê khép kín quanh huyện Phú Tân bắt đầu thi công năm 1998, nhưng được gần một năm thì chuyên gia thủy lợi của ta tham gia ở hiện trường đã kiến nghị nên làm theo phương án của huyện Chợ Mới. Chuyên gia Úc nghiêm túc lắng nghe và tạm dừng để nghiên cứu, sau đó đã điều chỉnh dự án, xây dựng 27 tiểu vùng đê bao cho diện tích đất canh tác của huyện Phù Tân và năm 2005 dự án hoàn thành, cho hiệu quả tốt.

Từ thành công của đê bao, cuộc sống lại sáng tạo việc xây dựng các tuyến và cụm dân cư vượt lũ, giải quyết chỗ ở cho hàng chục vạn gia đình thoát cảnh ngập nhà cửa trong mùa mưa lũ ở ĐBSCL. “Tư duy sáng tạo từ hàng triệu người dân sống trong vùng ngập lụt ĐBSCL qua nhiều thế hệ, từ các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu, các cấp lãnh đạo đã tìm ra được phương sách và mưu kế, đó chính là phương châm chỉ đạo phát triển thủy lợi gắn với giao thông và phân bố dân cư. Xin đừng gắn cho hệ thống đê bao vùng ngập lụt ĐBSCL cái nhiệm vụ đơn giản là bảo vệ độc canh cây lúa, mà phải hiểu, phải nhận thức thật sâu sắc sứ mệnh và nhiệm vụ cao cả cực kỳ to lớn của chúng là đảm bảo cân bằng điều hòa cán cân ẩm cho đất, cho cuộc sống, cho môi trường,.. xuyên suốt mọi thời gian, để vùng ngập lụt ĐBSCL có đủ điều kiện phát triển toàn diện”, ông Trâm kết luận.

Sáu Nghệ

“Đã đến lúc phải nhanh chóng công nhận, xếp hạng và đặt tên rõ ràng cho hệ thống đê này, hoặc là “đê quốc gia”, hoặc là “đê địa phương”, dù là tên gì đi chăng nữa, đều phải có quy chế quản lý, tu sửa, tôn tạo,.. qua hàng năm thật chu đáo theo đúng Luật Đê Điều, đảm bảo phòng lũ tuyệt đối an toàn cho sản xuất, đời sống và môi trường trong toàn bộ vùng ngập lụt ĐBSCL ổn định và bền vững trong mọi tình huống” (TS. Bùi Đạt Trâm).