Thứ bảy, 2/2/2019 | 22:18 GMT+7

Long An: Chấp hành viên có dấu hiệu “lạm quyền”?

LSVNO - Liên quan đến vụ tranh chấp ở Dự án Khu dân cư cao cấp và Trường đua ngựa (tại huyện Đức Hoà, tỉnh Long An), Chấp hành viên có dấu hiệu vi phạm Luật Thi hành án dân sự và số tiền 15,6 triệu USD của Công ty China Policy Limited đầu tư để thực hiện dự án, nhưng công ty này lại chưa được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.

Lộ rõ nhiều dấu hiệu trái pháp luật của Cục thi hành án?   

Theo hồ sơ, quá trình tổ chức thi hành Phán quyết Trọng tài, Cục Thi hành án dân sự (THADS) tỉnh Long An có nhiều việc làm thể hiện rõ sự "bất thường", không phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể:

Thứ nhất, Công ty Hồng Phát tiến hành thủ tục thế chấp 13 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) để triển khai Dự án Khu dân cư cao cấp và Trường đua ngựa. Tuy nhiên, Chấp hành viên Cục THADS tỉnh Long An kí ban hành Văn bản ngăn chặn số 525/CTHA ngày 18/9/2017.

Ngày 04/6/2018, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có Văn bản số 123/BC-BTP, báo cáo hướng giải quyết: Đối với trường hợp các bên không thỏa thuận được việc thành lập Công ty liên doanh hoặc đến thời hạn trước ngày 05/6/2018 theo yêu cầu của UBND tỉnh Long An mà việc thỏa thuận không có kết quả thì Bộ Tư pháp sẽ chỉ đạo Tổng cục THADS yêu cầu Cục THADS tỉnh Long An giải quyết việc thi hành án theo đúng quy định của pháp luật, vì không có cơ sở để áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản theo Điều 71 Luật THADS.

thi-cong-du-an-5c55b2741f2c1

Thi công dự án

Thứ hai, việc thành lập Công ty liên doanh phải do ý chí tự nguyện của các bên đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (kể cả cơ quan THADS) không thể thực hiện thay các bên đương sự. Cục THADS tỉnh Long An không có căn cứ để cưỡng chế kê biên tài sản đối với 13 GCNQSDĐ theo quy định tại khoản 4, Điều 69 và Điều 71 Luật THADS năm 2014. Chỉ có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế khi các bên đã thành lập được Công ty liên doanh mà Công ty Hồng Phát không đưa 13 GCNQSDĐ góp vốn vào trong Công ty liên doanh.

Thứ ba, Bộ Tư pháp có Công văn số 123/BC-BTP, ngày 4/6/2018; Tổng cục THADS có Văn bản số 4341/TCTHADS-NV1, ngày 26/11/2018, yêu cầu: Cục THADS tỉnh Long An ban hành văn bản chấm dứt thi hành Văn bản số 525/CTHA, ngày 18/9/2017.

Đến ngày 29/11/2018, Cục trưởng Bùi Phú Hưng đã ký văn bản báo cáo Tổng cục THADS và các cơ quan chức năng, nêu rõ: Ngày 28/11/2018, Cục THADS tổ chức họp, có mời VKS, văn phòng UBND, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An… Cuộc họp đi đến thống nhất, Chấp hành viên ban hành văn bản chấm dứt hiệu lực Văn bản số 525/CTHA, ngày 18/9/2017. Chấp hành viên đã kí Văn bản số 682/CTHADS-NV ngày 29/11/2018, chấm dứt hiệu lực thi hành Văn bản số 525/CTHA.

Theo quy định của pháp luật, muốn ban hành văn bản mới, Cục THADS tỉnh Long An phải báo cáo Tổng cục THADS, đồng thời thu hồi Văn bản số 682/CTHADS-NV, ngày 29/11/2018 đang có hiệu lực pháp luật. Thế nhưng, Chấp hành viên của Cục THADS tỉnh Long An là ông Đặng Hoàng Yên lại kí Quyết định số 07/QĐ-CTHADS, ngày 18/12/2018 để ngăn chặn đối với 13 GCNQSDĐ của Công ty Hồng phát. Đây là việc làm có dấu hiệu “lạm quyền”, vi phạm Luật THADS của Chấp hành viên Đặng Hoàng Yên?.

Có dấu hiệu CPL đầu tư “chui” và chuyển tiền "lậu”?

Cũng liên quan đến dự án này, theo Luật Đầu tư năm 2005, tại Điều 46: “Thủ tục đăng ký đầu tư đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài”; Điều 47: “Thẩm tra dự án đầu tư”; Điều 48 “Thủ tục thẩm tra đối với dự án có quy mô vốn đầu tư từ ba trăm tỉ đồng Việt Nam trở lên”; Điều 49: “Thủ tục thẩm tra đối với dự án thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện”; Điều 55: “Nội dung hợp đồng hợp tác kinh doanh”, Công ty China Policy Limited (CPL) và  Công ty Hồng Phát chưa thành lập Công ty Liên doanh, chưa được cấp Giấy Chứng nhận Đầu tư. Do đó, Hợp đồng hợp tác kinh doanh (thực chất là “Thỏa thuận khung” ký ngày 01/6/2007 thoả thuận giữ hai công ty cùng nhau hợp tác, tiến tới lập một Công ty Liên doanh để thực hiện Dự án) chỉ diễn ra giữa hai bên, không được các cơ quan hữu quan của Việt Nam ghi nhận.

mot-goc-du-an-du-an-khu-dan-cu-cao-cap-va-truong-dua-ngua-tai-huyen-duc-hoa-tinh-long-an-5c55b2691598e

Một góc Dự án Khu dân cư cao cấp và Trường đua ngựa.

Tại Văn bản số 2463/BKHĐT-PC, ngày 17/4/2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khẳng định: “Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài không thực hiện thủ tục đăng ký hoặc thẩm tra để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư khi bỏ vốn vào dự án tại Việt Nam thì không có cơ sở để tổ chức, cá nhân này thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư đối với dự án đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư”, như vậy, CPL có dấu hiệu đầu tư “chui” vào Việt Nam? Vấn đề mấu chốt này không được Hội đồng Trọng tài đề cập khi giải quyết vụ tranh chấp giữa CPL và Hồng Phát.

Một vấn đề mấu chốt nữa là nguồn gốc và đường đi của 15,6 triệu USD của CPL vào Việt Nam để góp vốn với Công ty Hồng Phát triển khai, cũng không được Hội đồng Trọng tài làm rõ. Trong khi số tiền này, CPL có dấu hiệu chuyển trái phép vào Việt Nam vì thời điểm năm 2007, CPL chưa được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.

Theo Luật sư Nguyễn Minh Tường (Đoàn luật sư tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) thì: “Quan hệ giữa Công ty Hồng Phát và CPL ban đầu (năm 2007) được xác định là giao dịch dân sự “Thoả thuận khung” để thành lập một pháp nhân mới. Trong đó, một bên là pháp nhân Việt Nam và một bên là công ty nước ngoài. Theo đó, hai bên cùng góp vốn để thực hiện dự án bằng một pháp nhân mới, phía Công ty Hồng Phát góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất và CPL góp vốn bằng tiền mặt (15,6 triệu USD). Nếu cho rằng giao dịch dân sự này là đúng pháp luật và không trái đạo đức thì một trong hai bên vẫn có quyền thực hiện và có quyền không thực hiện, nếu xét thấy tiếp tục thực hiện là trái pháp luật hoặc do bên kia vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự.

Trong giao dịch này, CPL được cơ quan thẩm quyền Việt Nam xác định chưa được cấp phép đầu tư cũng như chưa đăng kí hoạt động thương mại tại Việt Nam. Do đó, giao dịch giữa hai bên được xem là vô hiệu. Khi giao dịch vô hiệu thì hai bên cần phải giao trả lại những gì đã nhận.

Tuy nhiên, trong thời gian thực hiện giao dịch này, CPL đã chuyển cho Hồng Phát số tiền ngoại tệ là 15,6 triệu USD, khi mà CPL chưa được cấp phép đầu tư tại Việt Nam cũng như chưa được phép hoạt động thương mại tại Việt Nam thì xảy ra tranh chấp, nên cơ quan chức năng cần phải làm rõ nguồn gốc số ngoại tệ mà CPL chuyển vào Việt Nam có hợp pháp hay không? Nếu không hợp pháp thì phải xử lý số ngoại tệ này theo qui định pháp luật (tịch thu, và xem xét trách nhiệm hình sự), nếu CPL chứng minh được số ngoại tệ chuyển vào Việt Nam là có nguồn gốc rõ ràng và hợp pháp thì khi đó tranh chấp giữa CPL với Hồng Phát mới giải quyết theo pháp luật dân sự của Việt Nam…”.

Như vậy, kiến nghị của Hồng Phát liên quan đến CPL, nhất là tư cách pháp nhân và số tiền 15,6 triệu USD mà CPL đã chuyển vào Việt Nam cũng như làm rõ những vấn đề liên quan đến thi hành án là hoàn toàn có căn cứ.

PV