Thứ năm, 12/4/2018 | 13:49 GMT+7

TAND tối cao công bố dự thảo 3 Bộ Quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp thẩm phán

LSVNO - Thẩm phán không được có bất cứ phát biểu hay bình luận nào tại phiên tòa, phiên họp,trước công chúng hoặc truyền thông làm ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ việc một cách vô tư, khách quan. Đây là một trong những nội dung dự thảo 3 Bộ Quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán được Tòa án nhân dân (TAND) tối cao công bố để tiếp tục lấy ý kiến góp ý.

Kết quả hình ảnh cho thẩm phán

Ảnh minh họa.

Ngày 08/3, TAND tối cao đã tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo 3 Bộ Quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp thẩm phán với sự tham gia của các thế hệ Thẩm phán TAND, Thẩm phán Tòa án quân sự, các chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế; Đại diện bộ, ngành có liên quan. Trên cơ sở các ý kiến của Hội thảo, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học đã tiếp thu, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo 3 Bộ Quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp thẩm phán.

Tên của Bộ Quy tắc này được sử dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 76 Luật Tổ chức TAND. Dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử, đạo đức đức thẩm phán có lời nói đầu, 03 Chương, 17 Điều; quy định về phạm vi, đối tượng điều chỉnh; Yêu cầu chung; Yêu đối với thẩm phán; Những chuẩn mực đạo đức của thẩm phán (tính độc lập, sự vô tư khách quan, sự liêm chính, công bằng bình đẳng, sự đúng mực, sự tận tụy và không chậm trễ, năng lực và sự chuyên cần).

Lời nói đầu Bộ Quy tắc nói đến Công ước quốc tế về Quyền dân sự - Chính trị (được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966; có hiệu lực ngày 23/3/1976; Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982). Tiếp đến là khẳng định các nguyên tắc Hiến pháp năm 2013 ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng và bảo vệ; TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Thẩm phán là chức danh tư pháp cao quý - những chủ thể được Chủ tịch nước bổ nhiệm để thực hiện quyền tư pháp. Việc mỗi thẩm phán thực thi nhiệm vụ một cách vô tư, khách quan, công bằng, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật là điều kiện để bảo đảm chất lượng hoạt động của tòa án, bảo đảm tòa án là chỗ dựa của nhân dân về công lý. Đặc biệt nhắc đến truyền thống, quá trình hình thành và phát triển của tòa án, vững bước dưới lá cờ vẻ vang của Tổ quốc, cùng với sự lớn mạnh của đất nước, các thẩm phán luôn nêu cao gương “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư", "Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”, dũng cảm bảo vệ công lý, công bằng và lẽ phải, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng”; các tiêu chuẩn về đạo đức của thẩm phán là những điều kiện không thể thiếu để các thẩm phán thực thi quyền tư pháp…

Theo đó, thẩm phán phải độc lập trong mối quan hệ tổ chức hành chính của tòa án; độc lập với áp lực xã hội, kinh tế; độc lập với những người tiến hành tố tụng khác, với đồng nghiệp và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc đưa ra quyết định giải quyết vụ việc. Trong quá trình giải quyết vụ việc, thẩm phán tự quyết định trên cơ sở đánh giá của mình về tình tiết sự việc, chứng cứ và chỉ tuân theo pháp luật; không bị tác động hoặc can thiệp từ bên ngoài, dù trực tiếp hay gián tiếp, ở bất cứ đâu hoặc vì bất cứ lý do gì. Thẩm phán không được có bất cứ phát biểu hay bình luận nào tại phiên tòa, phiên họp, trước công chúng hoặc truyền thông làm ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ việc một cách vô tư, khách quan.. Thẩm phán phải từ chối tham gia tố tụng khi nhận thấy mình có khả năng sẽ giải quyết vụ việc một cách không vô tư, khách quan theo đánh giá chủ quan hoặc theo đánh giá của một người bình thường. Thẩm phán phải tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình để tránh trường hợp không được phân công giải quyết vụ việc do không đủ điều kiện về sự vô tư, khách quan. 

Những quy tắc ứng xử của thẩm phán: Ứng xử khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ; ứng xử tại cơ quan; ứng xử với các cơ quan, tổ chức có quan hệ công tác và thông tấn, báo chí; ứng xử với các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài; ứng xử tại nơi cư trú; ứng xử tại gia đình; ứng xử tại nơi công cộng; ứng xử đối với các hoạt động ngoài nhiệm vụ xét xử.

Theo đó, thẩm phán phát biểu quan điểm của mình thông qua bản án, quyết định. Khi chưa ban hành bản án, quyết định, thẩm phán không được phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ việc; thẩm phán không được cung cấp bản án, quyết định cho các cơ quan, tổ chức có quan hệ công tác và thông tấn, báo chí, trừ các hình thức đã được pháp luật quy định; thẩm phán chỉ phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu về xét xử, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng với các cơ quan, tổ chức có liên quan và cơ quan thông tấn, báo chí khi được cấp lãnh đạo có thẩm quyền giao theo đúng quy định của pháp luật... Thẩm phán được viết báo, viết sách, nghiên cứu khoa học, giảng dạy hoặc các hoạt động có thu nhập khác theo quy định của pháp luật nhưng không được tham gia các hoạt động có thể ảnh hưởng đến các giá trị đạo đức của thẩm phán…

Việc ban hành Bộ Quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp thẩm phán nhằm thể hiện các giá trị đạo đức cơ bản là nền tảng của hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử, nguyên tắc ứng xử của thẩm phán.

Đại Hưng