Chủ nhật, 29/7/2018 | 06:55 GMT+7

10 quy định không thể không biết đối với lao động thời vụ

LSVNO - Lao động thời vụ hiện nay cũng khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường do đặc thù công việc được thực hiện theo mùa vụ, tuy nhiên để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho bản thân thì nhất định phải nhớ 10 điều sau:

Điều kiện để ký kết hợp đồng lao động thời vụ         

Để biết được điều kiện để ký HĐLĐ thời vụ thì trước tiên phải xác định tính chất công việc NLĐ tham gia là gì, nếu bản chất của công việc là theo mùa vụ, dưới 12 tháng và không có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, thì sẽ ký kết HĐLĐ thời vụ.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 22 Bộ luật lao động 2012, những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, sẽ không được giao kết HĐLĐ thời vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Trừ những trường hợp sau:

- Phải tạm thời thay thế NLĐ đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản;

- NLĐ ốm đau, bị tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.

Trường hợp vi phạm, NSDLĐ sẽ bị xử phạt hành chính từ 500.000 - 20.000.000 đồng tùy theo số lượng NLĐ mà họ vi phạm theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.

1-116409-5b5d0213bc83c

 

10 quy định không thể không biết đối với lao động thời vụ

Hợp đồng lao động thời vụ

Theo pháp luật lao động, HĐLĐ thời vụ là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương theo mùa vụ hoặc công việc nhất định có tính chất không thường xuyên, có thời hạn dưới 12 tháng, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Hình thức của hợp đồng thời vụ   

Căn cứ Khoản 2 Điều 12 BLLĐ 2012, đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 3 tháng, các bên có thể giao kết HĐLĐ bằng lời nói.

Như vậy công việc theo mùa vụ có thời hạn dưới 3 tháng các bên có thể giao kết bằng lời nói. Còn đối với công việc có thời hạn 3 tháng thì việc giao kết bắt buộc phải lập thành văn bản.

Thời hạn của HĐLĐ thời vụ

Khoản 2 Điều 22 BLLĐ 2012 quy định, trong thời hạn 30 ngày kể từ khi HĐLĐ thời vụ hết hạn doanh nghiệp phải ký hợp đồng mới, nếu không HĐLĐ thời vụ sẽ đương nhiên trở thành HĐLĐ xác định thời hạn, với thời hạn là 24 tháng.

Pháp luật về lao động không quy định tối đa số lần ký mà NLĐ được phép ký kết HĐLĐ thời vụ với NSDLĐ. Tuy nhiên, phải đảm bảo tổng số thời gian của nhiều lần đó trong 1 năm không được vượt quá 12 tháng. Bởi nếu tổng thời gian cho tất cả các lần ký hợp đồng cộng lại trong 1 năm mà vượt quá 12 tháng thì đó được xem là công việc có tính chất thường xuyên 12 tháng trở lên.

Chính sách BHXH đối với HĐLĐ mùa vụ       

Căn cứ Điểm a, b Khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2014 thì đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm:

- Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa người NSDLĐ với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

- Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng.

Như vậy kể từ ngày 1.1.2018, NLĐ làm việc theo HĐLĐ thời vụ từ đủ 1 tháng trở lên cũng phải tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật về bảo hiểm.

Những ưu đãi khi NLĐ ký kết HĐLĐ theo mùa vụ  

Theo quy định tại Luật BHXH 2014, BLLĐ 2012 thì khi ký kết HĐLĐ thời vụ, NLĐ cũng được đảm bảo các quyền lợi:

- Được tham gia bảo hiểm thất nghiệp, BHXH và được hưởng đầy đủ quyền lợi khi đáp ứng các điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp, chế độ thai sản, hưu trí, tai nạn lao động...

- Được bảo vệ quyền lợi chính đáng theo quy định của pháp luật Lao động như không bị đuổi việc vô cớ, được trả lương đúng hạn...

Ký kết HĐLĐ thời vụ không phải trải qua thời gian thử việc     

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 BLLĐ 2012, NLĐ làm việc theo HĐLĐ thời vụ thì không phải thử việc.

Quy định về nội dung HĐLĐ thời vụ     

HĐLĐ thời vụ phải đảm bảo đầy đủ các nội dung quy định theo pháp luật về lao động. Cụ thể, theo quy định tại Điều 23 BLLĐ 2012 và Điều 4 Nghị định 05/2015/NĐ-CP thì HĐLĐ thời vụ phải bao gồm những nội dung cơ bản sau:

- Tên và địa chỉ NSDLĐ hoặc của người đại diện hợp pháp;

- Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số CMND hoặc giấy tờ hợp pháp khác của NLĐ;

- Công việc và địa điểm làm việc;

- Thời hạn của HĐLĐ;

- Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;

- Chế độ nâng bậc, nâng lương;

- Thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;

- Trang bị bảo hộ lao động cho NLĐ;

- BHXH và bảo hiểm y tế;

- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề;

- Các nội dung khác liên quan đến thực hiện nội dung mà hai bên thỏa thuận

Người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ thời vụ      

Căn cứ nội dung tại Điều 37 BLLĐ 2012, NLĐ làm việc theo HĐLĐ thời vụ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải báo trước cho NSDLĐ khi nghỉ việc trước thời hạn trong HĐLĐ. Tùy từng trường hợp mà NLĐ phải báo trước thời hạn quy định cho NSDLĐ:

- Ít nhất 3 ngày làm việc với trường hợp: Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong HĐLĐ; không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong HĐLĐ; bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động; bị ốm đau, tai nạn đã điều trị ¼ thời hạn hợp đồng mà khả năng lao động chưa được hồi phục;

- Ít nhất 03 ngày làm việc đối với các trường hợp: Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện HĐLĐ, được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

- Đối với trường hợp lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì thời hạn phải báo trước cho NSDLĐ tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

Trường hợp NLĐ theo HĐLĐ thời vụ đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 BLLĐ 2012 và Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP.

NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ thời vụ

Trong trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn thì thời hạn phải báo cho NLĐ ít nhất là 3 ngày làm việc. Nội dung này được quy định cụ thể tại Điều 38 BLLĐ 2012.

Hải Yến (tổng hợp)