Thứ bảy, 8/9/2018 | 12:48 GMT+7

Thẩm quyền của Tòa án theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

LSVNO - Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp là vấn đề quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp ở nước ta và được xác định trong nhiều Nghị quyết, văn kiện từ Đại hội VI của Đảng đến nay. Thẩm quyền xét xử của Tòa án trong vụ án hình sự được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điều 268 - Thẩm quyền xét xử của Tòa án.

Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm an ninh quốc gia; tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; các tội quy định tại các Điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật Hình sự; các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực; vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài.

Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.

Về thẩm quyền xét xử theo cấp

Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và khu vực

Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trừ những tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia; phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; các tội quy định tại các Điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật Hình sự; các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Dựa vào quy định của pháp luật thì có thể liệt kê ra những tội mà Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự cấp khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm như sau: tội giết người; tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; tội vi phạm các quy định về thăm dò, nghiên cứu, khai thác tài nguyên; tội vi phạm các quy định về điều khiển tàu bay; tội cản trở giao thông đường không; tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội tạo ra, lan truyền, phát tán các chương trình vi rút tin học; tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử; tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính; tội cố ý làm lội bí mật Nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật Nhà nước; tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội; tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội; tội ra bản án trái pháp luật; tội ra quyết định trái pháp luật; tội đầu hàng địch; tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh.

Tòa án nhân dân cấp huyện là cấp xét xử đầu tiên trong trình tự các cấp xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự Việt Nam hiện hành. Việc phân định thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án nhân dân tối cao, bởi vì các phần lập pháp bao giờ cũng bắt đầu từ việc xác định thẩm quyền của các cấp xét xử thấp nhất, sau đó mới quy định thẩm quyền của các cấp xét xử cao hơn.

Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, bao gồm các loại tội phạm có mức hình phạt cao nhất theo quy định của Bộ luật Hình sự là 15 năm tù, trừ những tội phạm được quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Căn cứ theo Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định tại khoản 1 Điều 269. Thẩm quyền theo lãnh thổ

“1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.”

Như vậy, nếu trường hợp tội phạm thực hiện ở một huyện nhất định thì Tòa án nhân dân cấp huyện có quyền xét xử đối với vụ án đó. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau trên địa bàn nhiều huyện hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án cấp huyện nơi kết thúc việc điều tra có thẩm quyền xét xử vụ án đó.

Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và quân khu

 Điều 268 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 bổ sung quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu đối với các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; những vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài.

Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực; vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài; vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.

Theo đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án cấp dưới mà mình lấy tên để xét xử.

Hầu hết, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, từ những vụ án mà mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù.

Những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp dưới (cấp huyện, khu vực) nhưng Tòa án nhân dân cấp tỉnh thấy cần thiết phải lấy lên để xét xử do tính chất đặc biệt của vụ án thì không được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Do đó, Chánh án Tòa án cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát và thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh căn cứ vào khả năng thực tế của các Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên ở cấp huyện mà xác định những vụ án nào cấn lấy lên để điều tra, truy tố và xét xử ở cấp tỉnh.

Căn cứ theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 quy định tại Điều 37, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn có thẩm quyền xét xử sau:

“1. Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật.

  1. Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
  2. Kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị.
  3. Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị trong quá trình kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng hình sự.

Tòa án nhân dân cấp cao

Theo quy định tại Điều 29 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 thì Tòa án nhân dân cấp cao có những thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.

Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.

Tòa án nhân dân tối cao

Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Theo quy định tại Điều 20 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 thì Tòa án nhân dân tối cao có thể giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của Luật Tố tụng; kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án gồm cả Tòa án nhân dân cấp cao.

Như vậy, theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 thì hệ thống tòa án tổ chức theo 4 cấp bao gồm: Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tối cao.

Về thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ

Thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án các cấp được quy định tại Điều 269 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Theo đó, Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

Trường hợp vụ án hình sự xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam thì sẽ do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân thành phố HCM hoặc Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử.

 Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án tòa án quân sự Trung ương. Đối với những vụ án mà tội phạm được thực hiện ở nước ngoài thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm chỉ thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Toàn án quân sự cấp quân khu mà không căn vứ vào địa điểm tội phạm được thực hiện.

Ngoài ra, những vụ án xảy ra trên tàu bay, tàu biển của Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải Việt Nam được xác định thẩm quyền xét xử như sau: “Máy bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam đang hoạt động ở không phận hoặc ngoài lãnh hải Việt Nam vẫn được xem là một bộ phận lãnh thổ của Việt Nam, do vậy những tội phạm xảy ra trên tàu biển, máy bay của Việt Nam sẽ do Tòa án Việt Nam xét xử. Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký”.

Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã có những quy định cụ thể hơn về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp, cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, thể hiện rõ trong một số quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án.

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo