Thứ sáu, 7/9/2018 | 13:29 GMT+7

Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé: Hai quan điểm thực hiện nghị quyết Chính phủ

LSVNO - Sáng 07/9, tại tỉnh Kiên Giang, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức cuộc họp lấy ý kiến của các cơ quan, đơn vị, địa phương, chuyên gia, nhà khoa học về Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé. Nhiều ý kiến sôi nổi theo hai quan điểm đối lập nhau, làm và không làm Dự án, nhưng đều nhấn mạnh là nhằm thực hiện Nghị quyết 120 của Chính phủ: “Chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn”.

Địa phương và viện nghiên cứu ủng hộ

Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Phạm Vũ Hồng mở đầu hội nghị, nhấn mạnh: “Dự án hết sức cần thiết với Kiên Giang và các tỉnh lân cận, đáp ứng yêu cầu cuộc sống, mang lại giá trị tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều lo ngại nên có hội nghị này và mong muốn qua các ý kiến đóng góp sẽ giảm được mặt hạn chế để dự án sớm triển khai, đạt các yêu cầu đề ra”.

Trong văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Phát tiển nông thôn, Chủ tịch UBND các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu thống nhất: “Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé được triển khai là tiền đề xây dựng quy hoạch chung hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long, góp phần thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng”.

Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam Đỗ Dức Dũng trình bày Báo cáo dự án, nêu những kết quả cụ thể cùng hạn chế của dự án. Theo đó, vùng dự án gồm 6 tỉnh và thành phố là Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng và TP. Cần Thơ (giới hạn bởi kênh Cái Sắn, sông Hậu, kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp, sông Ông Đốc, biển Tây), có diện tích tự nhiên 909.248 ha, dân số năm 2016 là 3,6 triệu người. Đây là vùng trũng, bị mặn xâm nhập sâu mùa khô và ngập lụt mùa mưa nên sản xuất khó khăn. Dự án nhằm góp phần chủ động khai thác tốt điều kiện tự nhiên, duy trì sản xuất tôm- lúa đang phù hợp và có hiệu quả.

Phó viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam Tăng Đức Thắng trình bày Kết quả nghiên cứu bổ sung đánh giá tác động của dự án, nhấn mạnh nghiên cứu này “hoàn toàn độc lập với dự án”, tập trung phân tích nguồn nước. Ông Thắng nhấn mạnh, qua khảo sát thực tế nhiều năm gần đây, nước mặn xâm nhập sâu chủ yếu từ sông Cái Lớn, diễn biến phức tạp khác hẳn trước đây, gây ra nhiều bất lợi cho sản xuất và đời sống, kể cả nuôi tôm. “Nguồn nước diễn biến phức tạp làm cho lịch thời vụ không ổn định, hoàn toàn bị động và như thế không thể sản xuất theo kế hoạch, khó phát triển”, ông Thắng nói.

a2-5b92193900a0a

 Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam Tăng Đức Thắng trình bày Kết quả nghiên cứu bổ sung đánh giá tác động của dự án.

Các báo cáo thống nhất, dự án khi đầu tư sẽ góp phần quan trọng, kiểm soát nguồn nước đáp ứng yêu cầu sản xuất ổn định, có kế hoạch, nâng cao đời sống người dân trong vùng dự án. Cụ thể, dự án sẽ đạt được 4 mục tiêu.

Thứ nhất là kiểm soát nguồn nước (mặn, ngọt) một cách chủ động phục vụ sản xuất: Tăng khả năng cấp ngọt cho vùng Tây sông Hậu; giải quyết mâu thuẫn giữa nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang và Bạc Liêu; phát triển ổn định vùng nuôi trồng thủy sản ven biển Kiên Giang; giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng.

Thứ hai là chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tác động bất lợi từ phát triển thượng nguồn sông Mê Công, đặc biệt trong những năm thiên tai (hạn hán, xâm nhập mặn cao, bão, lũ,…); góp phần giảm tác động của sụt lún đất nhằm phát triển kinh tế-xã hội ổn định.

Thứ ba là tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua và cải tạo đất phèn.

Thứ tư là kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ trong vùng.

Những phát biểu ủng hộ dự án khẳng định, 04 mục tiêu sẽ đạt được khi đầu tư xây dựng. Vốn cho dự án giai đoạn 1 là 3.310 tỷ đồng, thực hiện từ nay đến năm 2020. Đại diện các địa phương nhấn mạnh: “Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé sẽ góp phần thực hiện chủ trương, quan điểm phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu theo Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ là chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn”.

a4-5b92193a5c7a8

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hậu Giang Nguyễn Văn Đồng mong muốn có dự án để chuyển đổi sản xuất.

Chuyên gia độc lập phản đối

Quan điểm đối lập lại cho rằng: “Dự án Thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé nếu được thực hiện sẽ phá vỡ gần như toàn bộ Nghị quyết số 120”. Đại diện cho quan điểm này là các chuyên gia nghiên cứu độc lập, gồm Tiến sỹ Lê Anh Tuấn, Dương Văn Ni, Nguyễn Hồng Tín, Đặng Kiều Nhân ở Trường Đại học Cần Thơ và chuyên gia độc lập về sinh thái Nguyễn Hữu Thiện. Các chuyên gia có bản “Đánh giá các hệ thống ngăn mặn vùng ven biển châu thổ Cửu Long và Dự án thủy lợi sông Cái Lớn-Cái Bé”.

Phần đầu bản đánh giá cho rằng, các công trình ngăn mặn ở vùng ven biển châu thổ Cửu Long trong mấy chục năm qua gây hại nhiều hơn lợi. Gây hại ở việc: cản trở giao thông, sản xuất bất ổn mặn-ngọt, làm thay đổi đặc điểm nguồn nước và nguồn lợi thủy sản, thay đổi cả chất lượng đất và sinh cảnh thực vật, thay đổi văn hóa-xã hội, tính kém hiệu quả kinh tế công trình và không có người chịu trách nhiệm.

Với Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, bản đánh giá bày tỏ quan ngại cụ thể theo 04 mục tiêu. Với mục tiêu đầu tiên, đánh giá cho rằng: “Ở vùng này, thì người dân đã biết lợi dụng chênh lệnh địa hình khác nhau để quyết định trồng lúa (vùng đất gò cao) hay nuôi tôm (vùng trũng thấp)… Như vậy, trong vùng đã hình thành các hình thức canh tác nông nghiệp và thủy sản xen kẽ khá hài hòa với điều kiện thổ ngưỡng và khí hậu, từ xưa, không có gì mâu thuẫn giữa sử dụng nước mặn và nước ngọt giữa xóm làng với nhau. Sự mâu thuẫn xuất hiện sau này từ khi có chủ trương ngọt hóa từ thập niên 1980 với mục tiêu tăng diện tích trồng lúa, từ 1 vụ lên 2-3 vụ”. 

Mục tiêu hai, bản đánh giá khẳng định: “Tất cả các lý do này đều thiếu thuyết phục”. Bởi vì, sự kiện cực đoan gây hạn-mặn như mùa khô 2016 không nên bị lạm dụng làm chuẩn tình hình chung để xây dựng công trình, ngăn mặn để duy trì sản lượng lúa là thiếu thuyết phục, cho rằng nguồn nước ngọt chảy vào đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị cạn kiệt do tác động từ các nước thượng nguồn là tuyên bố võ đoán, lập luận khi xảy ra siêu bão thì cống Cái Lớn - Cái Bé cùng với đê biển và các cống trên đê sẽ ngăn tác động từ biển vào nội đồng là khó tin.

Mục tiêu thứ ba, bản đánh giá nhận xét: “Có lẽ đây là mục tiêu mà từ các giải pháp đến tính khả thi đều rất kém thuyết phục nhất”.

Mục tiêu cuối cùng, bản đánh giá viết: “Lập luận về vấn đề giao thông thủy khá mơ hồ (…). Trong dự án, không thể hiện rõ dự báo nhu cầu giao thông thủy bộ trong vùng trong tương lai và phương cách kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ theo những kịch bản đi lại, vận chuyển khác nhau theo điều kiện con nước”.

Từ đánh giá trên, các chuyên gia độc lập kết luận: “Dự án Thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé nếu được thực hiện sẽ phá vỡ gần như toàn bộ Nghị quyết 120, đặt mọi việc vào tình huống đã rồi. Công trình này sẽ gây ra vô vàn hệ lụy về môi trường cho một vùng rộng lớn Tây Sông Hậu và hoàn toàn không cần thiết cũng như không thể đạt được mục đích ngăn mặn đưa ra trong dự án”. Nên bản đánh giá kiến nghị: “Khẩn cấp dừng tất cả các công trình không cần thiết, điển hình là Dự án Thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé”.

a3-5b92193860b05

Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện kiến nghị, nếu phê duyệt thực hiện dự án thì cần công khai để sau này trường hợp không thành công, có người chịu trách nhiệm.

Tiến sỹ Dương Văn Ni, Lê Anh Tuấn và chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện phát biểu tại hội nghị cho rằng, sản xuất tranh chấp mặn-ngọt ở vùng bán đảo Cà Mau là do thiếu đa dạng cây trồng, vật nuôi; bày tỏ lo ngại, dự án mới giai đoạn 1, còn giai đoạn 2 và đã hoàn thiện chưa, hay còn giai đoạn sau nữa, bao giờ dừng lại? Tiến sỹ Lê Anh Tuấn cho biết thêm, những thông tin do Phó viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam Tăng Đức Thắng vừa trình bày, ông mới biết tại hội nghị. Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện kiến nghị, nếu phê duyệt thực hiện dự án thì cần công khai để sau này trường hợp không thành công, có người chịu trách nhiệm.

Sáu Nghệ

Trong thảo luận, các địa phương nêu thực tế đang gặp rất nhiều khó khăn, chục năm nay sản xuất quá phụ thuộc ông trời, bấp bênh, có năm thất trắng nên cần đầu tư dự án để hỗ trợ sản xuất hàng hóa lớn, thoát manh mún, lạc hậu. Điển hình là ý kiến của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hậu Giang Nguyễn Văn Đồng nói: “Chúng tôi chờ đợi mòn mỏi chục năm rồi, rất cần dự án để thoát cảnh lùng nhùng, không rõ ràng mặn ngọt, mỗi năm phải đắp tạm hàng trăm đập ngăn mặn mà vẫn không chuyển đổi được sản xuất”. Các GS.TS Đào Xuân Học, Nguyễn Tất Đắc (chuyên gia thủy lợi, tài nguyên đất), và PGS.TS Lê Việt Dũng (Phó hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ) đều ủng hộ đầu tư dự án để chủ động sống chung với thiên nhiên, đưa sản xuất nông nghiệp lên tầm công nghiệp. GS.TS Nguyễn Ngọc Trân cũng bày tỏ, không phản đối công trình nếu cần thiết và không hối tiếc, tuy nhiên, đề nghị thảo luận thêm biện pháp phi công trình để tìm giải pháp “theo hướng tiếp cận hệ thống và động”, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hoàng Văn Thắng kết luận hội nghị, cảm ơn các ý kiến thẳng thắn, xin tiếp nhận để hoàn thiện dự án phục vụ tốt vùng nông nghiệp trọng điểm quốc gia đi lên hiện đại. Trong đó, phải cân nhắc giữa bài toán môi trường và phát triển, trên cơ sở đảm bảo hỗ trợ người dân thích ứng với biến đổi khí hậu.