Thứ bảy, 24/2/2018 | 07:10 GMT+7

Bài toán hội nhập và sức ép cạnh tranh gia tăng

LSVNO - Năm APEC Việt Nam 2017 ghi nhận bước tiến ấn tượng của công cuộc hội nhập quốc tế về kinh tế với những cam kết của người đứng đầu đất nước của 21 nền kinh tế thành viên. Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam tổ chức các hội nghị thượng đỉnh kinh doanh CEO trong tuần lễ cấp cao APEC.

Trong phát biểu của mình, nhiều nguyên thủ quốc gia bày tỏ mong muốn và cả cam kết thúc đẩy thực hiện các mục tiêu hợp tác, liên kết nội khối và với riêng Việt Nam. Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc chỉ rõ bước tiến mạnh mẽ của chúng ta trong hội nhập: Việt Nam đã cho thấy sự năng động của mình thông qua việc tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và ủng hộ mạnh mẽ tự do thương mại toàn cầu. Việt Nam đã ký kết, tham gia 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) và đang đàm phán 4 FTA mới, trong đó có 18 đối tác thuộc các nền kinh tế APEC. Thực tế đó chứng minh hội nhập quốc tế về kinh tế là một tất yếu khách quan. Và đi kèm với nó là sự gia tăng mạnh của sức ép cạnh tranh mà các doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam phải tìm lời giải cho mục tiêu phát triển bền vững trong quá trình này.

thu-tuong-01-seps-5a90acd38cbc9

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Chính phủ Việt Nam kiên trì chủ trương hội nhập toàn diện với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế. Nguồn: chinhphu.vn

Người tiêu dùng và nhà nhập khẩu hưởng lợi

Tính đến thời điểm này, Việt Nam đã ký kết và hoàn tất đàm phán 16 hiệp định thương mại tự do, trong đó có 12 hiệp định đã ký kết và 4 hiệp định đang đàm phán. Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Hong Kong, Trung Quốc là hiệp định mới nhất trong tổng số 16 hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã tham gia.

Năm 2018, có 669 dòng thuế được xóa bỏ hoàn toàn thuế suất thuế nhập khẩu sẽ là áp lực lớn đối với các doanh nghiệp, nhưng người tiêu dùng sẽ là đối tượng được hưởng lợi. Khi thuế nhập khẩu hàng hóa giữa các nước ASEAN gần như bị xóa bỏ hết thì chắc chắn làn sóng hàng ngoại ồ ạt vào thị trường trong nước. Khi thuế về 0%, người dân sẽ được hưởng lợi vì được mua hàng giá rẻ, có thêm cơ hội lựa chọn hàng hóa. Ở chiều ngược lại, những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam cũng đang được các nước cho hưởng nhiều ưu đãi, việc mở rộng xuất khẩu rất thuận lợi. Việc cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu đã đem đến nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu nguồn nguyên liệu phong phú với giá rẻ hơn, nguồn thiết bị máy móc chất lượng tốt hơn sản xuất trong nước.

Việc giảm thuế theo cam kết hội nhập sẽ rất có lợi cho doanh nghiệp nhập khẩu. Bởi khi thuế nhập khẩu cắt giảm và về 0% sẽ giúp cho các doanh nghiệp nhập khẩu giảm được chi phí, tiền thuế nhập khẩu không phải nộp mà được sử dụng để đầu tư, kinh doanh… từ đó tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Các thỏa thuận này cũng hướng các quốc gia tới sự chuyên nghiệp hóa, chuyên môn hóa, quốc gia nào có thế mạnh ở lĩnh vực nào thì tập trung sản xuất trong lĩnh vực đó. Lĩnh vực nào không mạnh thì có thể thu hẹp dần hoặc chuyển sang lĩnh vực khác. Do vậy, sự chủ động của doanh nghiệp và người dân trong hội nhập sẽ giúp cho họ không phải đối mặt với cái được gọi là mặt trái của hội nhập.

Những hàng hóa sản xuất không đủ sức cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu

Ban Kinh tế Trung ương vừa có một báo cáo chi tiết về chủ đề Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, do ông Nguyễn Văn Bình, Trưởng ban Kinh tế Trung ương làm chủ biên.

Báo cáo nhận định, Việt Nam sẽ là nước chịu tác động rất mạnh mẽ bởi cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hay còn được gọi là cách mạng 4.0, trong đó lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam được cho là có nguy cơ bị máy móc đào thải với tỷ lệ cao nhất khu vực ASEAN.

Báo cáo dự đoán, sẽ có 74% số lao động ngành chế biến, chế tạo của Việt Nam có mức độ rủi ro cao, dễ bị thay thế do tự động hóa. Con số này cao hơn so với các nước trong khu vực, như Phillipines (54%), Thái Lan (58%) và Indonesia (67%).

Báo cáo nêu: “Bản chất ngành chế biến, chế tạo của Việt Nam hiện không có hiệu suất cao, lao động sử dụng không thông qua đào tạo chuyên sâu, chủ yếu lao động lắp ráp, chế biến giản đơn ở những công đoạn có thể dùng máy móc thay thế”.

Những năm qua, bức tranh công nghiệp Việt Nam đã có những chuyển dịch, khi tỷ trọng công nghiệp khai khoáng giảm, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo so với toàn ngành công nghiệp tăng từ 49,8% năm 2010 lên 50,5% vào năm 2015.

Công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam hiện đã giải quyết việc làm cho một số lượng lớn lao động. Tổng số lao động của ngành chế biến chế tạo năm 2010 là 6,6 triệu người, chiếm 13,5% trong tổng lao động cả nước; năm 2015, con số này đã tăng lên thành 8 triệu người, tương ứng với 15,3% trong tổng số lao động toàn quốc. Lao động trong ngành chế biến chế tạo chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo.

Trong khi đó, một bản báo cáo tham vấn của Bộ Khoa học và Công nghệ cũng chỉ ra hai chiều hướng mà cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 có thể tác động đến việc làm.

Chiều hướng thứ nhất, cách mạng công nghiệp có thể phá vỡ cấu trúc lực lượng lao động, dẫn tới lao động dư thừa do sự thay thế lao động bằng các robot. Tiến bộ công nghệ dẫn đến sự dịch chuyển của bản chất công việc từ sử dụng lao động thủ công sang lập trình và kiểm soát một cách tự động.

Báo cáo này nhấn mạnh: “Lao động trong các ngành chế biến chế tạo của Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ rất lớn bị mất việc làm do tác động của cuộc cách mạng 4.0. Trong đó, lao động sản xuất theo dây chuyền lắp ráp, gia công sẽ bị ảnh hưởng trước tiên vì khả năng dễ dàng trong việc sử dụng robot trong hầu hết tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất”.

Theo đó, sẽ có sự suy giảm đáng kể số lượng việc làm trong các lĩnh vực hành chính, chế biến chế tạo và xây dựng trong giai đoạn từ 2015 đến 2020.

Chiều hướng thứ hai, tích cực hơn, là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ có thể tạo ra nhiều việc làm hơn là số lượng đã bị mất đi. Mặc dù có sự suy giảm về số lượng việc làm trong một số ngành sử dụng nhiều lao động có kỹ năng thấp, cách mạng công nghiệp sẽ giúp các ngành có hàm lượng sáng tạo cao phát triển và tạo ra nhiều việc làm mới.

“Tiến bộ công nghệ dẫn đến sự dịch chuyển của bản chất công việc từ sử dụng lao động thủ công sang lập trình và kiểm soát một cách tự động bằng máy móc có hiệu năng cao. Khi đó, người lao động chủ yếu đảm nhiệm việc quản lý hệ thống máy móc thay vì tham gia trực tiếp vào”, theo Bộ Khoa học và Công nghệ.

Báo cáo của Ban Kinh tế Trung ương chỉ rõ: “Lao động trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ rất lớn bị mất việc làm do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp. Trong đó, lao động trong các ngành sản xuất theo dây chuyền lắp ráp và gia công sản phẩm sẽ bị ảnh hưởng trước tiên vì khả năng dễ dàng trong việc sử dụng robot trong hầu hết tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất”.

Mặt khác, tốc độ tăng năng suất lao động tại Việt Nam còn ở mức thấp là một nguy cơ mà các doanh nghiệp phải tìm giải pháp phù hợp. Thông báo của Tổng cục Thống kê cho biết: “Tính theo sức mua tương đương năm 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7% của Singapore, 17,6% của Malaysia và 36,5% của Thái Lan. Mỗi lao động của Việt Nam chỉ có năng suất bằng 42,3% của người Indonesia, 56,7% của Philippines và đặc biệt là chỉ bằng 87,4% năng suất lao động của Lào”.

cang-dinh-vuanh-tran-hai-0835-5a90ad4425b23

Ảnh minh họa.

Phát triển doanh nghiệp và tạo ra cạnh tranh là hai mặt đối lập biện chứng của kinh doanh. Kinh tế thị trường luôn đi liền với cạnh tranh và phá sản. Đó là điều tất yếu và phải coi đó là thách thức cơ bản của thị trường. Cho nên không có cách nào khác là chấp nhận cạnh tranh, cái cốt của thị trường là phải cạnh tranh, phải nắm bắt xu hướng và phải sàng lọc. Trong khi đó, công cuộc hội nhập đang có bước tiến mạnh mẽ mấy năm qua và những năm tiếp theo. Bắt buộc cả hai phía, doanh nghiệp và Nhà nước cùng phải đồng hành. Doanh nghiệp không những không sợ hãi, mà phải dám đối mặt với cạnh tranh, mở cửa hội nhập sâu rộng để tiếp cận với nhiều cơ hội rất lớn. Nhà nước thì đã đang nỗ lực chuẩn bị kết cấu hạ tầng, IT, kỹ năng mới đóng góp vai trò xây dựng nguồn nhân lực, xây dựng khuôn khổ pháp lý để nó được bùng phát, có cách thức hỗ trợ giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp.

Bài toán hội nhập và sức ép cạnh tranh gia tăng cần sự nỗ lực chung của Nhà nước và mỗi doanh nhân, doanh nghiệp.

Văn Tân