Thứ năm, 30/11/2017 | 08:44 GMT+7

Thấy gì qua một số vụ đại án trong lĩnh vực ngân hàng?

LSVNO - Từ khi Đảng và Nhà nước ta có chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần, công ty TNHH được thành lập ồ ạt trong tất cả các lĩnh vực, trong đó có nhiều ngân hàng thương mại với số vốn hàng nghìn tỷ đồng.

Bên cạnh các ngân hàng thương mại thuộc Nhà nước thì có hàng trăm ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh được thành lập, trong đó có cả ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

anh-xet-xu-phuc-tham-5a1f628aceda1

Các bị cáo tại phiên tòa xét xử phúc thẩm đại án thất thoát 9.000 tỷ đồng tại Ngân hàng Xây dựng Việt Nam. Ảnh: KTĐT

Phải nói rằng, chưa bao giờ ở Việt Nam lại có nhiều ngân hàng như hiện nay với số vốn hàng nghìn tỷ đồng. Nhiều cán bộ, nhân viên ngân hàng, tài chính nhà nước nghỉ hưu hoặc chưa đến tuổi nghỉ hưu cũng xin về để thành lập ra các ngân hàng thương mại; có ngân hàng phần vốn của tư nhân chiếm phần lớn tỷ phần, nhưng cũng có ngân hàng có phần vốn của Nhà nước.

Hầu hết các ngân hàng hoạt động có hiệu quả, người dân tin tưởng khi gửi tiền tiết kiệm hoặc đầu tư. Các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh cùng với các ngân hàng của Nhà nước có sự cạnh tranh lành mạnh, thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về tín dụng, ngân hàng.

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động tín dụng, do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là vì muốn thu hút nguồn tiền của khách hàng gửi vào đơn vị mình hoặc để cạnh tranh nên nhiều ngân hàng đã bỏ qua các quy định của Nhà nước về huy động vốn, vi phạm các quy định về cho vay, cố ý làm trái, tham ô, lừa đảo gây thất thoát số tiền đặc biệt lớn, nhiều ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Nhằm ổn định an ninh, trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi của người dân khi gửi tiền tiết kiệm hoặc đầu tư vào ngân hàng, Chính phủ đã thực hiện việc “mua lại với giá 0 đồng” đối với nhiều ngân hàng. Tại một phiên họp Chính  phủ vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã kết luận, từ nay trở đi, sẽ không đặt ra vấn đề Ngân hàng Nhà nước mua lại các ngân hàng với giá 0 đồng nữa, mà áp dụng các biện pháp: phục hồi, xử lý pháp nhân (sáp nhập, hợp nhất, bán toàn bộ vốn điều lệ, giải thể, phá sản) và phương án chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt. Tuy nhiên, đây mới là ý kiến thảo luận và kết luận của Thủ tướng Chính phủ về dự thảo Luật Hỗ trợ tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, còn phải chờ Quốc hội thảo luận và thông qua.

Thủ đoạn chiếm đoạt tiền của các ngân hàng cũng đa dạng như: làm giả thẻ ATM rút tiền ở các cây ATM hoặc sử dụng thẻ thanh toán giả để thực hiện giao dịch giả nhằm chiếm đoạt tiền của khách hàng… Tuy nhiên, số tiền mà người phạm tội chiếm đoạt bằng các thủ đoạn này không lớn, nhiều lắm cũng chỉ vài tỷ đồng. Các thủ đoạn này có nguyên nhân do quy định chưa đầy đủ, hoặc còn tồn tại những kẽ hở nên bị lợi dụng. Ngoài ra, người phạm tội còn giả làm người thân, bạn bè và nhờ nhận hộ tiền gửi qua các hình thức chuyển tiền từ nước ngoài như: cung cấp đường link vào trang giả mạo các trang web chuyển tiền quốc tế để khách hàng nhập tên truy cập, dùng mật khẩu giả để khách hàng cung cấp thông tin cho các đối tượng lừa đảo…

Trên thực tế, các “đại án” liên quan đến ngân hàng gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng lại chủ yếu do các hành vi tham ô, lừa đảo, cố ý làm trái, vi phạm các quy định về cho vay để các đối tượng trong và ngoài tổ chức tín dụng chiếm đoạt như các vụ việc xảy ra tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (Agribank), Ngân hàng thương mại TNHH một thành viên Đại Dương (Ocean Bank), Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB), Ngân hàng Đại Tín…

Trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt hơn 4.911 tỷ đồng xảy ra tại VietinBank từ năm 2007 đến tháng 9/2011, kết luận điều tra, bản cáo trạng và bản án sơ thẩm lần thứ nhất đều xác định Huyền Như phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, Huyền Như phải phạm tội tham ô tài sản mới đúng. Khi xét xử phúc thẩm lần một, tòa án cấp phúc thẩm cũng cho rằng hành vi của Huyền Như là hành vi tham ô tài sản nên đã hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại nhằm truy tố lại đối với Huỳnh Thị Huyền Như thêm tội tham ô tài sản. Tuy nhiên đến nay, cơ quan điều tra vẫn kết luận Huyền Như chỉ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chứ không phạm tội tham ô như bản án phúc thẩm nhận định.

Vụ án Ngân hàng thương mại cổ phần Xây dựng Việt Nam (VNCB) bị thua lỗ trầm trọng, mất khả năng thanh toán với số tiền trên 32.255 tỷ đồng, trong đó bị âm (-) 18.469 tỷ đồng. Tuy nhiên, VNCB không những không bị giải thể hoặc tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật mà được Ngân hàng Nhà nước mua lại với giá 0 đồng. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chỉ xác định hành vi phạm tội của Phạm Công Danh và đồng phạm là “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”; “vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dụng”. Nhiều chuyên gia pháp luật cho rằng, việc truy cứu trách nhiệm hình sự Phạm Công Danh về hai tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”; “vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dung” là chưa chính xác, mà lẽ ra phải truy cứu trách nhiệm hình sự Phạm Công Danh và đồng phạm về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mới đúng. Bởi lẽ, trong số hơn 18.000 tỷ đồng Phạm Công Danh đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn rút ra từ VNCB và lập các chứng từ khống để vay của 3 ngân hàng khác, Danh dùng hơn 10.000 tỷ đồng mua cổ phần cho nhóm của mình và trả nợ cá nhân hoặc trả nợ cho Tập đoàn Thiên Thanh, còn lại không biết Danh đã chi tiêu vào việc gì?

Ngoài ra, cơ quan điều tra đã không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với em trai của Phạm Công Danh là Phạm Công Trung là người giúp sức đắc lực cho Phạm Công Danh trong việc lập hồ sơ khống tại 4 chi nhánh của BIDV với số tiền 4.700 tỷ đồng. Lúc đầu, cơ quan cảnh sát điều tra đã có lệnh khởi tố và bắt giam Phạm Công Trung và đề nghị viện kiểm sát phê chuẩn, nhưng không hiểu sao viện kiểm sát lại không phê chuẩn. Do bỏ lọt hành vi phạm tội của Phạm Công Trung nên tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định trả lại quyền sử dụng đất cho Trung mà cơ quan điều tra kê biên. Ngoài Phạm Công Trung, trong vụ án này có dấu hiệu bỏ lọt ông Trần Quý Thanh, Tổng giám đốc Công ty Tân Hiệp Phát và bà Trần Ngọc Bích, Phó giám đốc Công ty Tân Hiệp Phát, (con gái ông Thanh), bà Hứa Thị Phấn và một số người khác đã giúp sức cho bị cáo Danh rút tiền của Ngân hàng. Một vụ án đặc biệt nghiêm trọng, các hành vi phạm tội diễn ra có tổ chức, có sự bàn bạc, lập kế hoạch chặt chẽ, nhưng trong số 36 bị cáo thì có đến 33 bị cáo được tòa án áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và có 8 bị cáo được hưởng án treo. Không chỉ áp dụng hình phạt quá nhẹ mà việc áp dụng các biện pháp tư pháp để thu hồi tài sản cũng không đến nơi, đến chốn; hàng nghìn tỷ đồng đã được chi tiêu vô tội vạ nhưng chỉ có Phạm Công Danh chịu trách nhiệm bồi thường, còn 35 bị cáo không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho VNCB. Đây là điều rất đáng suy nghĩ.

Trong vụ Công ty Tài chính TNHH một thành viên Cao su Việt Nam thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam được thành lập theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có chức năng vay và cho vay như một tổ chức tín dụng, Trần Quốc Hoàng là cán bộ Phòng Tín dụng của Công ty. Do thua bạc nên đã lập các hợp đồng tín dụng giả (khống), rồi lợi dụng mối quan hệ quen biết với giám đốc và các nhân viên các phòng, ban để rút tiền của Công ty nhiều lần với tổng số tiền hơn 45 tỷ đồng. Trong vụ án này, không hề có giao dịch cho vay nào. Việc Hoàng lập giả các hợp đồng vay vốn chỉ là thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt nhưng cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án cấp sơ thẩm đã xác định hành vi của giám đốc và các cán bộ các phòng ban là hành vi phạm tội “vi phạm các quy định về cho vay”. Khi xét xử phúc thẩm, hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại.

Qua các vụ án liên quan đến ngân hàng cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã rất lúng túng khi xác định tội danh cũng như phạm vi trách nhiệm hình sự đối với những người có hành vi phạm tội, không thấy hết được bản chất của hành vi, còn bị chi phối bởi ý kiến chỉ đạo của ban chuyên án hoặc của cấp trên nên việc khởi tố, truy tố, xét xử không đúng người, đúng tội; chưa thấy hết sự câu kết giữa các bị cáo là người đứng đầu trong các ngân hàng đã thông đồng, thao túng ngân hàng. Có vụ án do không nắm chắc các dấu hiệu cấu thành tội phạm nên thường khởi tố sai tội danh. Chỉ khi các phương tiện thông tin vào cuộc, các chuyên gia pháp luật phân tích mới thấy sai. Tuy nhiên, việc sửa sai cũng không kịp thời, còn mang tư tưởng bảo thủ. Có vụ rõ ràng bị cáo phạm tội tham ô tài sản nhưng lại khởi tố, truy tố, xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội “cố ý làm trái…” hoặc không có hoạt động cho vay nhưng lại khởi tố, truy tố, xét xử các bị cáo về tội liên quan đến hoạt động cho vay; có trường hợp các bị cáo không có hành vi chiếm đoạt mà chỉ sử dụng trái phép tài sản nhưng lại khởi tố, truy tố, xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản…

 

Vũ Hoài An