Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam: Quá trình xây dựng và một số điểm mới (Phần 1)

23/06/2020 09:41

(LSO) – Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (mới) đã được ban hành theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13 tháng 12 năm 2019 của Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Để tạo điều kiện cho các luật sư tìm hiểu nghiên cứu và thực hiện trong quá trình hành nghề, Tạp chí Luật sư Việt Nam xin giới thiệu bài viết “Một số điểm mới trong Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam” do Luật sư Nguyễn Minh Tâm, Tổ trưởng Tổ Xây dựng dự thảo Bộ Quy tắc tổng hợp và biên soạn.

Sau đây, Luật sư Việt Nam Online trân trọng giới thiệu phần 1 bài viết với nội dung “Quá trình xây dựng và một số điểm mới trong Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam”.

Luật sư Nguyễn Minh Tâm, Tổ trưởng Tổ Xây dựng dự thảo Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

Thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong năm 2018 – 2019, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu, sửa đổi bổ sung Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (Bộ Quy tắc). Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã thành lập Tổ Xây dựng dự thảo sửa đổi và tổ chức tổng kết việc thực hiện, nghiên cứu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung Bộ Quy tắc. 

Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc họp, tọa đàm, hội thảo và gửi Dự thảo để lấy ý kiến đóng góp của các luật sư, các ủy viên Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các ủy viên Hội đồng Luật sư toàn quốc, các Đoàn Luật sư đối với Dự thảo sửa đổi Bộ Quy tắc. Các ý kiến đóng góp đối với Dự thảo sửa đổi đã được nghiên cứu, tiếp thu 6 lần trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện Dự thảo cuối cùng là Dự thảo 7. Dự thảo này đã được Hội đồng Luật sư toàn quốc thông qua. Bộ Quy tắc mới đã được  ban hành theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

I. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam

Bộ Quy tắc (cũ) do Hội đồng Luật sư toàn quốc thông qua, được ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20/7/2011 của Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã góp phần củng cố và hoàn thiện các giá trị chuẩn mực về đạo đức và định hướng hành vi ứng xử nghề nghiệp của luật sư, là thước đo phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, tạo cơ sở để luật sư tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trong hành nghề và sinh hoạt đời sống, giữ gìn phẩm giá, uy tín của mỗi cá nhân luật sư nói riêng và góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đội ngũ luật sư nói chung. Bộ Quy tắc còn là một trong những công cụ chủ yếu để Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các Đoàn Luật sư thực hiện chức năng tự quản, là cơ sở để giải quyết khiếu nại, tố cáo, xem xét khen thưởng, xử lý kỷ luật luật sư.

Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện Bộ Quy tắc trong hơn 8 năm qua đã cho thấy, Bộ Quy tắc đã bộc lộ những bất cập, hạn chế về nội dung, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình hành nghề luật sư, khiến cho việc giải quyết các vấn đề, tình huống phát sinh của các luật sư gặp những khó khăn nhất định. Trong một số trường hợp phải xem xét, xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư, các Đoàn Luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã gặp những vướng mắc do vấn đề chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ ràng trong Bộ quy tắc.

Một số quy tắc trong Bộ Quy tắc còn quy định chung chung, chưa thể hiện rõ những việc luật sư phải làm hoặc không được làm. Tuy không có mâu thuẫn lớn, nhưng một số nội dung của Bộ Quy tắc cũng thể hiện sự không đồng nhất, có thể còn chồng chéo với quy định pháp luật. Có những nghĩa vụ đạo đức trong Bộ Quy tắc đồng thời là nghĩa vụ pháp lý của luật sư đã được pháp luật quy định. Nội dung một số quy tắc đã được quy định trong các văn bản nội bộ khác của Liên đoàn như điều lệ, quy chế…, một số quy tắc còn chưa chuẩn về mặt kỹ thuật, văn phong… 

Thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội hiện nay có các giao dịch dân sự, kinh tế phức tạp. Nhu cầu dịch vụ pháp lý trong xã hội ngày một đa dạng, phát sinh những vấn đề, tình huống, những tranh chấp, khiếu nại trong quan hệ giữa luật sư với khách hàng và với các chủ thể khác có liên quan đến phạm trù đạo đức nghề nghiệp. Bộ Quy tắc hoặc chưa có quy định điều chỉnh, hoặc quy định còn bất cập, chưa rõ ràng nên rất cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước đồng thời cũng đặt ra yêu cầu hội nhập quốc tế cho luật sư, nghề  luật sư Việt Nam. Những giá trị đạo đức cốt lõi có tính phổ quát của nghề luật sư trên thế giới cần được tiếp tục tham khảo, tiếp thu có chọn lọc vào Bộ Quy tắc để tạo sự tương đồng giữa hoạt động của luật sư Việt Nam với hoạt động luật sư trong khu vực và trên thế giới. 

Với những lý do nêu trên, Bộ Quy tắc cần thiết được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của nghề luật sư và thực tiễn hành nghề của luật sư Việt Nam.

II. Phạm vi và định hướng sửa đổi bộ quy tắc

1. Phạm vi sửa đổi

Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam được nghiên cứu sửa đổi toàn diện nhằm hoàn thiện Bộ Quy tắc đã được Hội đồng Luật sư toàn quốc thông qua và ban hành vào tháng 7 năm 2011. 

2. Định hướng cơ bản trong sửa đổi Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam

Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam được nghiên cứu sửa đổi trên cơ sở các định hướng cơ bản sau đây:

– Khắc phục những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện Bộ Quy tắc; rà soát, sửa đổi, bổ sung những quy định còn chồng chéo, chung chung, chưa đầy đủ, chưa có quy định để điều chỉnh, loại bỏ những quy tắc đã được pháp luật quy định, điều chỉnh để tránh trùng lặp;

– Kế thừa và phát triển những nội dung, quy định của Bộ Quy tắc hiện hành còn phù hợp với thực tiễn, truyền thống tốt đẹp của đội ngũ luật sư Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm qua hơn 8 năm thực hiện Bộ Quy tắc;

– Tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm, quy định về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư của một số Hiệp hội, Đoàn Luật sư trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là những nước có truyền thống nghề luật sư tương đồng với Việt Nam.

III. Quá trình xây dựng sự thảo Bộ Quy tắc

Để nghiên cứu sửa đổi Bộ Quy tắc, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã thành lập Tổ Xây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ Quy tắc. Thường trực Liên đoàn cũng đã mời một số luật sư tham gia nghiên cứu, đề xuất ý kiến sửa đổi, bổ sung Bộ Quy tắc.

Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã có Công văn số 295/LĐLSVN ngày 08/8/2018 đề nghị Đoàn Luật sư các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổng kết việc thực hiện Bộ Quy tắc và đề xuất các nội dung sửa đổi Bộ Quy tắc. 

Trên cơ sở ý kiến đề xuất trong báo cáo tổng kết của một số Đoàn Luật sư và một số luật sư, Tổ Xây dựng dự thảo đã soạn thảo Dự thảo 1 sửa đổi Bộ Quy tắc.

Trong năm 2018 – 2019, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã tổ chức các cuộc họp, hội thảo, tọa đàm trong nước và quốc  tế để lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo sửa đổi Bộ Quy tắc.

Nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến đóng góp, Tổ Xây dựng dự thảo đã chỉnh lý, hoàn thiện các Dự thảo và gửi lấy ý kiến của các Ủy viên Ban Thường vụ Liên đoàn vào ngày 08/10/2018, lấy ý kiến Bộ Tư pháp ngày 25/4/2019. Ngày 01/7/2019 Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã gửi Dự thảo 4 Bộ Quy tắc tới các Đoàn Luật sư, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao đề nghị tham gia đóng góp ý kiến cho Dự thảo 4 Bộ Quy tắc.

Tiếp thu ý kiến đóng góp của các Đoàn Luật sư, các cơ quan nói trên đối với Dự thảo 4, Tổ Xây dựng Dự thảo Bộ Quy tắc đã chỉnh lý, hoàn thiện thành Dự thảo 5 và trình Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam xem xét, cho ý kiến. 

Ngày 24/8/2019 tại phiên họp thứ 30 Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã xem xét, cho ý kiến về Dự thảo 5 sửa đổi Bộ Quy tắc.

Tiếp thu ý kiến của Ban Thường vụ, Tổ thường trực Xây dựng Dự thảo Bộ Quy tắc đã chỉnh lý, hoàn thiện thành Dự thảo 6 (ngày 07/9/2019) gửi lấy ý kiến của các thành viên trong Tổ và trình xin ý kiến Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam (qua email). 

Dự thảo sửa đổi Bộ Quy tắc trình Hội đồng Luật sư toàn quốc lần cuối cùng là Dự thảo 7 đã được chỉnh lý, hoàn thiện trên cơ sở tiếp thu các ý kiến của Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam để trình ra Hội đồng Luật sư toàn quốc thông qua.

IV. Tổng quát những điểm mới cơ bản của Bộ Quy tắc

1. Tên gọi và bố cục Bộ Quy tắc

Tên gọi: Có ý kiến đề nghị bổ sung từ “Bộ” vào phần tên gọi của Quy tắc, thành “Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam” vì là văn bản tập hợp nhiều quy tắc điều chỉnh trong nhiều vấn đề, lĩnh vực và để phù hợp với nội dung quy định tại Điều 65 Luật Luật sư (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 37 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư). Hơn nữa, trong thực tế  hành nghề, các luật sư khi viện dẫn vẫn thường sử dụng tên gọi Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư.

Tiếp thu ý kiến này, tên gọi của Bộ Quy tắc mới được chỉnh lý thành “Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam”. 

Bố cục: So với Bộ Quy tắc (cũ) được Hội đồng Luật sư toàn quốc nhiệm kỳ I ban hành ngày 20 tháng 7 năm 2011 (gồm Lời nói đầu, 06 Chương và 27 Quy tắc), Bộ Quy tắc mới  gồm Lời nói đầu, 32 Quy tắc.

So sánh:

Chương I: Bộ Quy tắc cũ có 5 Quy tắc; Bộ Quy tắc mới rút xuống còn 4 Quy tắc;

Chương II. Bộ Quy tắc cũ có  9 Quy tắc; Bộ Quy tắc mới có 12 Quy tắc;

Chương III. Bộ Quy tắc cũ có 8 Quy tắc; Bộ Quy tắc mới có 9 Quy tắc;

Chương IV. Bộ Quy tắc cũ có 2 Quy tắc, Bộ Quy tắc mới có 3 Quy tắc;

Chương V. Bộ Quy tắc cũ có 1 Quy tắc, Bộ Quy tắc mới có 2 Quy tắc;

Chương VI. Cả Bộ Quy tắc cũ và mới cùng có 2 Quy tắc.

Như vậy, bố cục chung của Bộ Quy tắc về cơ bản, vẫn giữ nguyên 6 Chương. Tuy nhiên, các quy tắc trong Chương II: Quan hệ với khách hàng được chia thành 4 mục nhỏ:

Mục 1: Những quy tắc cơ bản;

 Mục 2: Nhận vụ việc;

Mục 3: Thực hiện vụ việc;

Mục 4: Kết thúc vụ việc. 

Có ý kiến đề nghị cơ cấu lại bố cục của Bộ Quy tắc mới theo hướng: bổ sung thêm 01 Chương quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ; bỏ chia thành các mục tại Chương II quan hệ với khách hàng; và trình bày bố cục văn bản theo kết cấu Chương – Điều – Khoản – Điểm, tương tự hình thức văn bản quy phạm pháp luật để thuận tiện viện dẫn.

Về những vấn đề này,Tổ dự thảo nhận thấy, tên gọi Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư đã bao hàm phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng rồi nên không cần thiết phải quy định riêng thành một chương “Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng” như ý kiến góp ý.

Đa số các ý kiến nhất trí vẫn giữ tên gọi là các quy tắc, không chuyển thành tên gọi điều khoản, vì lý do: Bộ Quy tắc (cũ) đã được thực hiện 8 năm, tên gọi quy tắc đã được dùng quen thuộc và viện dẫn trong quá trình thực hiện, nên không cần thiết phải sửa đổi thành điều khoản. Tên “Quy tắc” cũng thể hiện đặc trưng của các quy phạm đạo đức điều chỉnh hành vi đạo đức và ứng xử của luật sư, khác với các quy định dưới hình thức tên “Điều”, “Khoản” của quy phạm pháp luật. Việc thay đổi quy tắc thành “Điều” nếu không làm thay đổi bản chất của các quy tắc thì không nên thay. Tổ dự thảo tiếp thu ý kiến này.

Về đối tượng áp dụng: Có ý kiến đề nghị áp dụng Bộ Quy tắc này đối với cả “người tập sự hành nghề luật sư” vì trong nội hàm của tên gọi “ứng xử nghề nghiệp luật sư” đã chứa đựng người tập sự hành nghề luật sư. 

Loại ý kiến khác đề nghị không áp dụng đối với người tập sự hành nghề luật sư vì pháp luật quy định họ không được cung cấp dịch vụ pháp lý khi chưa được công nhận là luật sư, chưa phải là thành viên Đoàn Luật sư và Liên đoàn Luật sư, chưa có tư cách luật sư hành nghề; nếu người tập sự trong quá trình tập sự có vi phạm thì xử lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời, do nội dung của Bộ Quy tắc chỉ điều chỉnh những vấn đề về đạo đức và ứng xử của luật sư nên Bộ Quy tắc mới cũng không có quy tắc nào điều chỉnh hành vi đạo đức của “người tập sự hành nghề luật sư”. Quy tắc 24 quy định về đạo đức và ứng xử của luật sư trong quan hệ với người tập sự là quy định đối với luật sư hướng dẫn chứ không quy định về ứng xử của người tập sự hành nghề.

Tiếp thu loại ý kiến thứ hai, trong Bộ Quy tắc mới không quy định người tập sự hành nghề luật sư là đối tượng phải áp dụng.

2. Lời nói đầu

Quá trình tọa đàm, hội thảo, xin ý kiến các Đoàn Luật sư, có rất ít ý kiến góp ý sửa đổi, bổ sung về nội dung Lời nói đầu. Hầu hết các ý kiến đều cho rằng Lời nói đầu của dự thảo sửa đổi đã được chỉnh lý, hoàn thiện về câu chữ, văn phong mạch lạc, dễ hiểu, phù hợp với truyền thống của luật sư và nghề luật sư Việt Nam. 

3. Về nội dung cơ bản của Bộ quy tắc

3.1. Chương I. Quy tắc chung

Bộ Quy tắc (cũ) gồm 5 quy tắc, Bộ Quy tắc mới chỉ còn 4 quy tắc, do chuyển Quy tắc 3 “Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của khách hàng” sang Chương II (Quan hệ với khách hàng) cho phù hợp với nội dung của chương. 04 quy tắc chung (từ Quy tắc 1 đến Quy tắc 04) quy định những vấn đề chung có tính phổ quát về đạo đức và ứng xử của luật sư. Quy tắc 1 “Bảo vệ công lý và nhà nước pháp quyền” được sửa thành “Sứ mệnh của luật sư” thể hiện sứ mệnh của luật sư trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ công lý, công bằng xã hội, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Quy tắc 2 quy định về tính độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan được giữ nguyên như quy tắc hiện hành. 

Quy tắc 3 và 4 (Quy tắc 4 và Quy tắc 5 Bộ Quy tắc cũ) được rà soát, chỉnh lý về câu chữ, văn phong, thể hiện rõ hơn trách nhiệm của luật sư trong việc giữ gìn danh dự, uy tín và phát huy truyền thống của luật sư (Quy tắc 5 cũ chỉ quy định “xứng đáng với sự tin cậy của xã hội”) và trách nhiệm của luật sư trong việc tham gia các hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng, xã hội, không chỉ bó hẹp trong trách nhiệm trợ giúp pháp lý miễn phí như Quy tắc 4 hiện hành. 

3.2. Chương II. Quan hệ với khách hàng

Gồm 12 quy tắc (từ quy tắc 05 đến 16). Các quy tắc trong Chương này đã được rà soát, bổ sung những nội dung còn thiếu; loại bỏ những quy tắc đã được pháp luật quy định; thể hiện sự ngắn gọn, cô đọng, súc tích hơn.

Chương này được chia thành 4 mục nhỏ: 

* Mục 1 (từ Quy tắc 5 đến Quy tắc 9) là những quy tắc cơ bản trong quan hệ giữa luật sư với khách hàng, những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng;

* Mục 2 (Quy tắc 10 và Quy tắc 11) là những quy tắc về ứng xử cụ thể của luật sư khi tiếp nhận vụ việc của khách hàng, những trường hợp luật sư phải từ chối tiếp nhận vụ việc; 

* Mục 3 (từ Quy tắc 12 đến Quy tắc 15): Quy định về ứng xử của luật sư khi thực hiện vụ việc của khách hàng; các trường hợp luật sư có quyền từ chối hoặc phải từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc của khách hàng; ứng xử của luật sư khi đơn phương chấm dứt thực hiện vụ việc đã nhận của khách hàng và giải quyết khi có xung đột lợi ích trong quá trình nhận, thực hiện vụ việc của khách hàng;

* Mục 4 (Quy tắc 16): Quy định về ứng xử của luật sư với khách hàng khi kết thúc vụ việc.

Sở dĩ Bộ Quy tắc mới chia Chương II thành 04 mục nhỏ là trên cơ sở tham khảo Bộ Quy tắc của Liên đoàn Luật sư Nhật Bản và căn cứ vào thực tế quan hệ giữa luật sư với khách hàng trải qua 03 giai đoạn: Nhận vụ việc, thực hiện vụ việc, kết thúc vụ việc để xác định các quy tắc ứng xử của luật sư trong từng giai đoạn, tránh bị trùng lắp và dễ áp dụng trong quá trình thực hiện. Những vấn đề chung của mối quan hệ luật sư với khách hàng được đưa vào Mục 1. “Những quy định cơ bản”. Phần ứng xử còn lại có những quy tắc tương ứng với nội dung và tính chất của từng giai đoạn.

Trong Chương II, vấn đề xung đột lợi ích là vấn đề được đại đa số các luật sư quan tâm, có nhiều ý kiến trong các buổi tọa đàm, hội thảo trong nước và quốc tế, đặc biệt là ý kiến của các luật sư trong Câu lạc bộ Luật sư Thương mại Quốc tế. Các ý kiến này cho rằng, cần phải nghiên cứu, cấu trúc lại Quy tắc này cho phù hợp với thực tiễn hành nghề luật sư, với thực tiễn khu vực và quốc tế. Tổ dự thảo đã nhiều lần trực tiếp lấy ý kiến các luật sư như là những chuyên gia, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong giải quyết các tranh chấp về xung đột lợi ích. Vì vậy, Quy tắc 15 trong Bộ Quy tắc mới  đã thể hiện cụ thể trong Quy tắc 15.1 là loại quy phạm định nghĩa về xung đột lợi ích, bảo đảm tính khái quát, khắc phục được sự liệt kê cụ thể về xung đột lợi ích mà trong thực tế kỹ thuật lập pháp, không thể liệt kê hết.

Khi giải quyết các trường hợp xung đột về lợi ích nhằm bảo đảm một cách tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, vẫn cần tôn trọng quyền tự định đoạt của khách hàng trong việc chọn lựa luật sư bảo vệ cho mình. Vì vậy, Bộ Quy tắc mới có quy định một số trường hợp xung đột về lợi ích, nhưng khách hàng vẫn tự nguyện chấp nhận bằng văn bản thì sẽ không còn là điều cấm đối với luật sư trong các trường hợp có xung đột về lợi ích. Tất nhiên, sự chấp thuận của khách hàng không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.

3.3. Chương III. Quan hệ với đồng nghiệp

Gồm 9 quy tắc (từ Quy tắc 17 đến Quy tắc 25) quy định về ứng xử của luật sư trong quan hệ với luật sư đồng nghiệp, ứng xử của luật sư khi có tranh chấp quyền lợi với đồng nghiệp, những việc luật sư không được làm trong quan hệ với đồng nghiệp; ứng xử của luật sư với tổ chức hành nghề luật sư; ứng xử của luật sư với người tập sự hành nghề luật sư; ứng xử của luật sư với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư và của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân.

Các quy tắc trong Chương này đã được rà soát, thể hiện ngắn gọn, cô đọng, súc tích hơn. 

Quy định rõ ràng hơn về tình đồng nghiệp giữa các luật sư, luật sư phải tôn trọng lẫn nhau, không phân biệt tuổi tác và thời gian hành nghề; luật sư không được tạo thành phe nhóm để cô lập đồng nghiệp, không liên kết, liên danh, thành lập nhóm hoạt động trái pháp luật, Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Bộ Quy tắc này. 

Quan hệ của luật sư với tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư và quan hệ của luật sư với tổ chức hành nghề luật sư (Quy tắc 21 cũ) được tách ra thành 02 quy tắc riêng (Quy tắc 22 “Ứng xử của luật sư trong tổ  chức hành nghề luật sư” và Quy tắc 25 “Quan hệ của luật sư với tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư”).

Bổ sung một quy tắc (Quy tắc 23) về ứng xử của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân trong quan hệ với cơ quan, tổ chức để giữ tính độc lập, trung thực, khách quan của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân.

3.4. Chương IV. Quan hệ với cơ quan, người tiến hành tố tụng

Gồm 03 quy tắc (từ Quy tắc 26 đến Quy tắc 28) quy định về ứng xử của luật sư trong quan hệ với cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng khi hoạt động hành nghề trong lĩnh vực tố tụng, bao gồm những ứng xử chung của luật sư khi tham gia tố tụng, ứng xử tại phiên tòa và những việc luật sư không được làm trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. 

Các quy tắc trong Chương này đã được rà soát, thể hiện ngắn gọn, cô đọng, súc tích hơn; loại bỏ những nội dung đã được pháp luật quy định. 

3.5. Chương 5. Quan hệ với các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác

Chương này gồm 02 quy tắc (Quy tắc 29 và Quy tắc 30), quy định về ứng xử của luật sư trong quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. So với Bộ Quy tắc (cũ), Chương này được bổ sung thêm 01 quy tắc quy định về ứng xử của luật sư trong “Quan hệ với các tổ chức, cá nhân khác”.

Luật sư cần có thái độ lịch sự, tôn trọng khi tiếp xúc, làm việc với các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác; tuân thủ quy định, nội quy của các cơ quan, tổ chức và quy định của Bộ Quy tắc này. 

3.6. Chương VI. Các quy tắc khác

Chương này vẫn gồm 02 quy tắc (Quy tắc 31 và Quy tắc 32), trong đó thay thế Quy tắc 26 (cũ) về ứng xử của luật sư trong “Quan hệ với các cơ quan thông tin đại chúng” thành  Quy tắc 31. “Thông tin, truyền thông”. Quy định chung về ứng xử của luật sư khi cung cấp thông tin cho báo chí, phương tiện thông tin đại chúng, sử dụng mạng xã hội.

Quy tắc 32 là quy tắc cuối cùng vẫn quy định về ứng xử của luật sư khi quảng cáo về hoạt động nghề nghiệp của luật sư, nghề luật sư. Tuy nhiên, đã quy định rõ hơn về trách nhiệm của luật sư “Khi quảng cáo về hoạt động hành nghề luật sư, luật sư không được cung cấp những thông tin không có thật hoặc thông tin gây hiểu nhầm” và “Luật sư không được thực hiện việc quảng cáo làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của luật sư và nghề luật sư”.

(Còn nữa…)

Luật sư NGUYỄN MINH TÂM
Tổ trưởng Tổ Xây dựng dự thảo Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam