/ Kết nối
/ Hành vi cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự quy định tại Điều 335 Bộ luật Hình sự năm 2015: Những khó khăn và vướng mắc

Hành vi cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự quy định tại Điều 335 Bộ luật Hình sự năm 2015: Những khó khăn và vướng mắc

22/11/2021 03:51 |

(LSVN) - Điều 335 Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS) quy định về tội “Cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự”, đây là quy định có ý nghĩa rất quan trọng, nâng cao tính giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật, vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc cần kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung.

Tội “Cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự” trực tiếp xâm phạm đến việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân, làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. So với Điều 262 BLHS năm 1999, Điều 335 BLHS không có thay đổi gì về hành vi khách quan, về cấu thành tội phạm cũng như về hình phạt. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả nhận thấy vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc nhất định cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung.

1. Khó khăn, vướng mắc

Một là, kết cấu tên điều luật và phần quy định hành vi chưa thống nhất, đầy đủ.

Điều 335 BLHS với kết cấu tên điều luật là: "Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự", nhưng tại phần quy định hành vi lại liệt kê: "1. Người nào cố ý cản trở việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện,…".

Việc liệt kê như trên là chưa thống nhất với tên điều luật và chưa phản ánh hết tất cả hành vi nguy hiểm cho xã hội đối với vấn đề thực hiện nghĩa vụ quân sự. Bởi hiện nay, quy trình thực hiện nghĩa vụ quân sự rất chặt chẽ, thực hiện nhiều khâu, giai đoạn khác nhau. Trong bối cảnh thực hiện "ba gặp, bốn biết" và thực hiện "tròn khâu" trong công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, thì thanh niên khi đủ 17 tuổi phải thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự (đăng ký tuổi 17) tại Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện; trên cơ sở đó, thông qua Hội đồng nghĩa vụ quân sự cấp xã và cấp huyện để xét duyệt chính trị, tuyển chọn những công dân có đủ phẩm chất chính trị; sau khi lựa chọn những công dân có đủ phẩm chất chính trị phải thực hiện việc khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự và quyết định gọi công dân nhập ngũ phục vụ trong quân đội.

Một quy trình đi qua nhiều khâu, nhiều cấp, nhưng hiện nay các quy phạm pháp luật trong Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 chưa phản ánh đầy đủ các quy trình ấy, đặc biệt là việc gọi nhập ngũ. Do đó, đã gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trên thực tiễn đối với một số hành vi như: Cản trở, không tạo điều kiện thuận lợi trong việc xét duyệt chính trị đối với công dân đến độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Ví dụ như: Ngày 21/10/2021, trên cơ sở danh sách đăng ký tuổi 17, Hội đồng Nghĩa vụ quân sự xã A tiến hành thu thập một số thông tin về lai lịch chính trị, gặp gỡ công dân B, nhưng C (là bố B) vì không muốn con thực hiện nghĩa vụ quân sự nên đã nhiều lần có hành vi đóng cửa nhà không tiếp xúc với Hội đồng Nghĩa vụ quân sự xã A và xúi giục B bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh. Đây là hành vi phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội, nhưng chưa quy định cụ thể trong BLHS, dẫn đến rất khó áp dụng pháp luật để xử lý hình sự đối với C, các cơ quan có thẩm quyền phải vận dụng rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau để xử lý hành vi của C, tạo tính trừng trị, răn đe.

Hai là, có sự quy định không rõ ràng giữa khoản 2 Điều 335 và khoản 1 Điều 334 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Khoản 2 Điều 335 BLHS quy định: "…. phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn…" đối với hành vi cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Như vậy, lợi dụng chức vụ, quyền hạn là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với hành vi cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Tác giả cho rằng có sự không rõ ràng với quy định tại khoản 1 Điều 334 BLHS: "1. Người nào lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái quy định….". Bởi trên thực tế, có nhiều hành vi khó phân định rạch ròi giữa việc "làm trái quy định" và hành vi "cản trở"; trong khi đó, quy định hình phạt tại khoản 2 Điều 335 cao hơn so với khoản 1 Điều 334, dẫn đến khi có hành vi phạm tội xảy ra, rất khó áp dụng pháp luật.

Ví dụ: Tại Bản án 21/2020/HSST ngày 08/5/2020 của Tòa án nhân huyện V, tỉnh N tuyên các bị cáo: Nguyễn Quốc T., Đặng Mạnh C. về tội “Cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự”. T. là bác sĩ, biết rõ quy trình khám sức khỏe tuyển chọn công dân nhập ngũ, thông qua C., T. đã cho A. sử dụng thuốc Efferalgan Codein trước khi khám sức khỏe, khi Hội đồng khám tuyển nghĩa vụ quân sự xét nghiệm nước tiểu của A. bằng cách test que thử và cho kết quả dương tính với chất ma túy, nhằm làm cho A. không đủ điều kiện sức khỏe, không trúng tuyển nghĩa vụ quân sự, T. và C. đã nhận lợi một lợi ích về vật chất từ A. 

Như vậy, hành vi của T. và C. đủ yếu tố cấu thành tội “Cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự”. Tuy nhiên, giả sử rằng T. (bác sĩ) là thành viên của Hội đồng khám tuyển nghĩa vụ quân sự, trực tiếp khám tuyển cho A., trên cơ sở kết quả test que thử, T. kết luận A. không điều kiện về sức khỏe để nhập ngũ. Như vậy, hành vi của T. đủ yếu tố cấu thành tội "Cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự" quy định tại khoản 2 Điều 335 và cũng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội "Làm trái quy định về thực hiện nghĩa vụ quân sự". Dẫn đến có nhiều quan điểm trái chiều khi áp dụng pháp luật.

2. Đề xuất, kiến nghị 

Để áp dụng pháp luật một cách thống nhất và hiệu quả, tác giả đề xuất thời gian tới Hội đồng Thẩm phán TANDTC có hướng dẫn cụ thể khi áp dụng Điều 335 BLHS vào thực tiễn. 

Bên cạnh đó, tác giả kiến nghị nên sửa đổi quy định tại Điều 335 BLHS theo hướng không liệt kê hành vi và bỏ tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "lợi dụng chức vụ, quyền hạn" ra khỏi điều luật, bởi nếu một chủ thể lợi dụng chức vụ quyền hạn, sử dụng ảnh hưởng của mình đối người khác để trục lợi, tùy theo trường hợp, có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 334 hoặc Điều 358, 366 BLHS, cụ thể:

"Điều 335. Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Người nào cố ý cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội trong thời chiến, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm".

VÕ MINH TUẤN

Thư ký Tòa án Quân sự Khu vực 1 Quân khu 5

Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế về từ thiện do cá nhân, tổ chức không chuyên thực hiện

Trường hợp nào sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao

(LSVN) - Theo quy định của pháp luật, trường hợp nào sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao?

Ảnh minh họa.

Căn cứ khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019), các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:

- Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân: Theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 22 Nghị định 22/2018/NĐ-CP thì việc tự sao chép một bản này áp dụng đối với các trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân không nhằm mục đích thương mại.

- Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình: Theo hướng dẫn tại Điều 23 Nghị định 22/2018/NĐ-CP thì việc trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình phải đáp ứng đủ các điều kiện như phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm của mình; phần trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn.

- Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu.

- Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại.

- Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu: Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 22 Nghị định 22/2018/NĐ-CP việc sao chép không quá một bản, thư viện không được sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số.

- Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;

- Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;

- Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;

- Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;

- Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định trên không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

HỒNG HẠNH

Những trường hợp nào phải cách ly khi vào Hà Nội theo quy định mới nhất?

Quyền cơ bản của người bào chữa chưa được thực thi?

(LSVN) - Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Thông tư liên tịch, Thông tư đơn ngành của Bộ Công an đều quy định thống nhất nhằm đảm bảo quyền của người bào chữa, quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. Nhưng thực tiễn thi hành, người bào chữa vẫn gặp quá nhiều khó khăn, dẫn đến không thể thực hiện quyềnnày! Thiết nghĩ, có tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh quy định của luật đã được ban hành có hiệu lực trong thực tiễn thì quyền của của công dân trong tố tụng mới thật sự được bảo vệ.

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 có hiệu lực đến nay đã gần 4 năm, thế nhưng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, quyền gặp mặt, trao đổi, làm việc của người bào chữa với bị can bị tạm giam còn gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí bị cản trở,... Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký người bào chữa, Luật sư đã có văn bản đăng ký gặp bị can bị tạm giam nhưng với nhiều lý do khác nhau đều không được giải quyết. Điều này ảnh hưởng đến uy tín, vị thế  của Luật sư khi đảm nhận bào chữa từ giai đoạn điều tra, ảnh hưởng lớn đến quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự.

Ảnh minh họa.

Người bào chữa có quyền gặp hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam để thực hiện bào chữa trong tố tụng hình sự. Đây là quy định mới về quyền của người bào chữa so với BLTTHS 2003, là quyền cơ bản được ghi nhận đầu tiên tại điểm a khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015. 

Tại Ðiều 10 Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT ngày 23/01/2018 của Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – TAND tối cao – Viện KSND tối cao quy định: “Khi nhận được văn bản thông báo người bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam của cơ quan đang thụ lý vụ án thì cơ sở giam giữ tổ chức cho người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật;Trường hợp cần phải giám sát cuộc gặp thì Thủ trưởng, người có thẩm quyền của cơ quan  đang thụ lý vụ án phối hợp với cơ sở giam giữ tổ chức giám sát,…”.

Vào tháng 10/2018, Tạp chí Luật sư Việt Nam đã đăng bài phản ánh thực trạng “Người bào chữa chưa thực hiện được quyền gặp người bị buộc tội, bị tạm giam”. Thời điểm phản ánh BLTTHS 2015 mới hiệu lực chưa được một năm, Bộ Công an chưa có Thông tư thay thế Thông tư 70/2011/TT-BCA về đảm bảo quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra, nên các điều tra viên, cán bộ điều tra,cán bộ có thẩm quyền của cơ sở giam giữ thường lấy lý do chưa có hướng dẫn để từ chối giải quyết yêu cầu của người bào chữa về việc gặp người bị tạm giam. Giới Luật sư rất búc xúc về thực trạng này. 

Đến tháng 8/2019, tại cuộc gặp đại diện lãnh đạo Bộ Công an, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã đề nghị Bộ Công an ban hành Thông tư thay thế Thông tư 70 nhằm hướng dẫn, quán triệt để cơ quan điều tra các cấp, các điều tra viên, cán bộ điều tra, cán bộ có thẩm quyền của cơ sở giam giữ cần nhận thức thống nhất và bảo đảm tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa nói chung và quyền gặp riêng của Luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, không bị giới hạn thời gian gặp, làm việc và có hướng dẫn.

Ngày 10/10/2019, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư 46/2019/TT-BCA quy định trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 02/12/2019).

Việc ban hành Thông tư số 46/2019/TT-BCA thể hiện yêu cầu bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự, trên tinh thần cải cách tư pháp. Tại Điều 12, Thông tư 46 đã quy định việc tố chức cho người bào chữa gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam như sau:

"Khi người bào chữa đề nghị gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt và đã xuất trình văn bản thông báo người bào chữa và Thẻ Luật sư, Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân thì cơ quan đang thụ lý vụ án phải bố trí để người bào chữa gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt tại trụ sở của mình, phổ biến cho người bào chữa biết quy định của trụ sở Cơ quan điều tra và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh".

Khi người bào chữa đề nghị gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thì cơ quan đang quản lý người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thực hiện theo quy định tại Điều 80 BLTTHS năm 2015 cơ quan đang quản lý người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam có trách nhiệm thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết việc gặp của người bào chữa để cử người phối hợp với cơ sở giam giữ giám sát cuộc gặp nếu xét thấy cần thiết.

Việc tổ chức cho người bào chữa gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam được thực hiện theo quy định tại Điều 10 Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao quy định về quan hệ phối hợp giữa cơ sở giam giữ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và VKS có thẩm quyền kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam.

Người bào chữa có thể thông báo trước việc gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra đang thụ lý vụ án. Việc gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam của người bào chữa được thực hiện trong giờ làm việc của cơ sở giam giữ. Cơ quan điều tra, Cơ sở giam giữ không được hạn chế số lần và thời gian trên một lần gặp của người bào chữa với người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam. Người bào chữa phải tuân thủ quy định của BLTTHS năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, các văn bản hướng dẫn thi hành và nội quy cơ sở giam giữ (hiện nay áp dụng Thông tư số 36/2017/TT-BCA ngày 19/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành “Nội quy cơ sở giam giữ”).

Trong các chuyên đề giới thiệu, tuyên truyền phổ biến các đạo luật tư pháp mới hay tại các hội thảo, bồi dưỡng pháp luật,... các chuyên gia pháp luật đều khẳng định quyền gặp mặt, tiếp xúc, làm việc riêng của Luật sư – Người bào chữa  với người bị tạm giữ, tạm giam là quyền mới thể chế hóa từ quyền hiến định cho phép người bị buộc tội có quyền nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa, đây là cơ sở triển khai hoạt động hành nghề hợp pháp của Luật sư trong tố tụng hình sự.

Theo các quy định của BLTTHS, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Thông tư liên tịch số 01 ngày 23/01/2018 của Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – TAND Tối cao – VKSND Tối cao quy định khẳng định quyền đương nhiên và chủ động của Luật sư trong việc gặp người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, trừ trường hợp cần giữ bí mật điều tra trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định tại Ðiều 74 BLTTHS 2015. 

Việc người bào chữa gặp bị can bị tạm giam trong giai đoạn điều tra là độc lập, không buộc phải có mặt điều tra viên hoặc phải được sự chấp thuận trước của cơ quan điều tra. Quy định mới về quyền này tuy rất ngắn, chỉ vài chữ “Gặp, hỏi người bị buộc tội" nhưng đó là bước đột phá trong quá trình dân chủ hóa hoạt động tố tụng, thực thi nhiệm vụ bảo vệ công lý, tôn trọng sự thật khách quan và bảo vệ các quyền,lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân trong các vụ án hình sự.

Hiến pháp, BLTTHS, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Thông tư liên tịch, Thông tư đơn ngành của Bộ Công an đều quy định thống nhất nhằm đảm bảo quyền của người bào chữa, quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. Nhưng thực tiễn thi hành, người bào chữa vẫn gặp quá nhiều khó khăn, dẫn đến không thể thực hiện quyềnnày! Thiết nghĩ, có tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh quy định của luật đã được ban hành có hiệu lực trong thực tiễn thì quyền của của công dân trong tố tụng mới thật sự được bảo vệ.

Quy định mới tiến bộ nhưng không được thi hành trên thực tế sẽ không còn ý nghĩa của nguyên tắc thực thi Hiến pháp và luật. Trong khi đó, Luật Luật sư đã quy định: “Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động hành nghề của Luật sư”. Nhưng đến thời điểm này, BLTTHS, BLHS và các văn bản hướng dẫn, kể cả việc xử lý vi phạm hành chính chưa có quy định nào để xử lý những hành vi cản trở hoạt động hành nghề của người bào chữa!?

Để pháp luật được thực thi trong cuộc sống, cần phải có chế tài cụ thể xử lý nghiêm vi phạm của người tiến hành tố tụng về hành vi cản trở hoạt động hành nghề Luật sư, đặc biệt là trong tố tụng hình sự. Trong tương lai gần, khi tổng kết thi  hành BLHS, BLTTHS, Luật Luật sư về thực trạng Luật sư bị xâm phạm khi hành nghề hợp pháp để  kiến nghị bổ sung  tội “Cản trở hoạt động hành nghề của Luật sư” để xử lý nghiêm các hành vi cản trở Luật sư, xâm phạm đến quyền bào chữa, quyền được bảo vệ hợp pháp và chính đáng của bị can, bị cáo.

Quyền cơ bản đã được Hiến pháp và luật định

Khoản 4 Ðiều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa.

Khoản 1 Ðiều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: “Người bào chữa có quyền gặp, hỏi người bị buộc tội”.  

Khoản 3 Ðiều 22  Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 cũng quy định: “Người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để thực hiện bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này tại buồng làm việc của cơ sở giam,...”.

Luật Luật sư nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động hành nghề của Luật sư (khoản 3 Điều 9).

Cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước khác và tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho Luật sư thực hiện quyền và nghĩa vụ của Luật sư khi hành nghề, không được cản trở hoạt động hành nghề của Luật sư (khoản 5, Điều 27 Luật Luật sư).

Người có chức vụ, quyền hạn mà có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư hoặc cản trở Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư thực hiện quyền, nghĩa vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 91 Luật Luật sư).

Luật sư NGUYỄN HỒNG HÀ

Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Khánh Hòa

Cần có chế tài xử lý hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư

Taliban cấm đài truyền hình chiếu phim có nữ diễn viên

(LSVN) - Lực lượng Taliban vào ngày 21/11 đã ban hành “hướng dẫn tôn giáo mới” đề nghị các kênh truyền hình của Afghanistan ngừng chiếu phim có diễn viên nữ.

Hãng thông tấn AFP (Pháp) đưa tin Bộ Khuyến khích đạo đức và Ngăn ngừa đồi bại đã đưa ra hướng dẫn đối với truyền thông Afghanistan. Taliban đề nghị các nữ phóng viên, biên tập viên trên truyền hình trùm khăn hijab của đạo Hồi khi dẫn chương trình.

Theo hướng dẫn mới, các nữ phát thanh viên phải trùm khăn hijab khi xuất hiện trên truyền hình. Ảnh: Getty Images.

Bộ trên cũng đề xuất các kênh truyền hình không chiếu phim hoặc chương trình chống lại đạo Hồi và các giá trị Afghanistan.

Người phát ngôn Bộ Khuyến khích đạo đức và Ngăn ngừa đồi bại Hakif Mohajir nói với AFP: “Đây không phải quy định mà là hướng dẫn tôn giáo”.

Trước đó, lực lượng Taliban đã đưa ra các quy định về trang phục phụ nữ được mặc khi đến trường đại học.

Trong 20 năm qua, các kênh truyền hình Afghanistan đã chiếu các chương trình rất đa dạng, từ các cuộc thi hát cho đến video ca nhạc, phim dài tập của Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ.

TTXVN

Phân loại tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2015

Xét xử phúc thẩm vụ án Ngân hàng Đông Á giai đoạn 2: Tiếp tục hoãn phiên tòa do kiểm sát viên dương tính với Covid-19

(LSVN) - 

Ngày 22/11, Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án Trần Phương Bình (nguyên Tổng Giám đốc, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng tín dụng Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á - DAB) và các đồng phạm về tội "Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng", "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản" gây thiệt hại cho DAB hơn 8.827 tỷ đồng.

Trước đó, vào tháng 5/2021, phiên tòa phúc thẩm bị hoãn do bị cáo có kháng cáo và một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo vắng mặt.

Trong phần làm thủ tục phiên tòa, chủ tọa phiên tòa thông báo hoãn phiên tòa, ngày mở phiên tòa mới sẽ được ấn định sau.

Lý do là kiểm sát viên tham gia phiên xét xử có kết quả test nhanh dương tính với SARS-CoV-2.

Do đây là vụ án lớn, thời gian xét xử kéo dài, các kiểm sát viên này phải theo dõi xuyên suốt vụ án nên sự phân công thay thế đòi hỏi phải có thời gian.

Đồng thời, trong 10 bị cáo kháng cáo có một người tại ngoại và người này vừa mới báo với tòa là thuộc diện F1, xin hoãn phiên tòa. 

Trước đó, vào ngày 27/11/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Trần Phương Bình mức án chung thân. 

Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Phùng Ngọc Khánh 18 năm tù về tội "Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng." 

Mười bị cáo còn lại bị tuyên phạt mức án thấp nhất là 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo, cao nhất là 7 năm tù, cùng về tội danh "Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng." 

Về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Bình bồi hoàn hơn 2.000 tỷ đồng cho DAB; bị cáo Phùng Ngọc Khánh bồi hoàn hơn 3.949 tỷ đồng vì đã gây thiệt hại cho DAB thông qua các khoản vay của nhóm M&C. 

DUY ANH

Đề xuất đầu tư gần 3.500 tỉ đồng hoàn thiện đường Hồ Chí Minh đoạn Chơn Thành - Đức Hòa

Admin