Hoàn thiện thể chế kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay

31/10/2020 19:44

(LSVN) – Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, tệ nạn tham nhũng đã ở mức nghiêm trọng đáng báo động. Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp trung ương, ở các chương trình, dự án lớn mà ngay tại chính quyền cơ sở, nơi tiếp xúc giải quyết hàng ngày các vấn đề của dân cũng xảy ra các hiện tượng cửa quyền, nhũng nhiễu, trục lợi.

Ảnh minh họa.

Nhiều ngành, nghề được xã hội tôn vinh và thừa nhận vị thế như ngành y, ngành giáo dục và các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng xuất hiện các vấn đề tiêu cực, vi phạm pháp luật. Tham nhũng và đặc biệt tham nhũng vặt như thứ ung nhọt làm suy yếu hệ thống chính trị, khiến người dân mất niềm tin vào chính quyền nhân dân. Chính vì vậy, Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã đặt ra vấn đề tăng cường chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…, coi tham nhũng, lãng phí là vấn nạn quốc gia, là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Trên tinh thần đó, việc ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 vừa đáp ứng nhu cầu và diễn biến phức tạp của vấn nạn tham nhũng hiện nay, vừa bảo đảm tính đồng bộ với các luật khác trong hệ thống pháp luật như Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Phòng, chống rửa tiền…

Có thể nhận thấy, lần sửa đổi, bổ sung năm 2018 của Luật Phòng, chống tham nhũng khá toàn diện về: Đối tượng điều chỉnh mở rộng sang khu vực ngoài nhà nước; đổi mới mô hình cơ quan phòng chống tham nhũng; xây dựng các biện pháp nhận diện và kiểm soát xung đột lợi ích, kiểm soát thu nhập và tài sản cá nhân, các cơ chế thu hồi tài sản; luật hóa vấn đề quà tặng và nhận và nộp lại quà tặng… Tuy nhiên, khi triển khai tổ chức thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 từ tháng 01/7/2019, chúng ta vẫn gặp phải rất nhiều rào cản do khung pháp lý còn khá chung. Ngoài Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, các nghị định, thông tư khác hướng dẫn Luật vẫn đang trong quá trình dự thảo. Bên cạnh đó, một số cá nhân là người có chức vụ, quyền hạn có tâm lý ngại ngần, né tránh va chạm; vẫn còn sự thiếu hụt từ truyền thông và công tác giải thích pháp luật cho cán bộ, công chức và nhân dân cùng nắm rõ và giám sát quá trình phòng, chống tham nhũng.

Trước những tồn tại trong thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh chống tệ tham nhũng, yêu cầu phải thực hiện những giải pháp mang tính chất đồng bộ, trong đó, hoàn thiện hệ thống thể chế là vấn đề đầu tiên cần phải tiến hành bởi lẽ, việc kiểm soát tài sản thu nhập của người có chức vụ quyền hạn giải quyết hài hòa một số vấn đề “nhạy cảm”. Trước hết, quá trình này tác động trực tiếp đến quyền tự do, bí mật đời tư cá nhân mà cụ thể là quyền tài sản của người bị kiểm soát. Bên cạnh đó, do đối tượng của kiểm soát tài sản, thu nhập của là người có chức vụ, quyền hạn nên thực tiễn đấu tranh lại càng khó khăn. Nếu không có hành lang pháp lý chặt chẽ thì dễ dàng dẫn đến khả năng vừa không bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập của người có quyền hạn chức vụ, vừa xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị kiểm soát.

Việc xây dựng những quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn phải giải quyết được trọn vẹn các nội dung cơ bản của hoạt động này bao gồm: (i) Đối tượng của kiểm soát tài sản, thu nhập; (ii) Phạm vi của kiểm soát tài sản, thu nhập; (iii) Biện pháp kiểm soát tài sản, thu nhập; (iv) Các biện pháp xử lý vi phạm quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập. Bên cạnh đó, pháp luật về phòng, chống tham nhũng quy định về kiểm soát thu nhập, tài sản của người có chức vụ, quyền hạn với tư cách là pháp luật chuyên ngành phải có sự thống nhất với hệ thống với các hệ thống pháp luật khác như pháp luật hình sự, dân sự, pháp luật về tố tụng tư pháp, pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật…

1. Hoàn thiện quy định về đối tượng của kiểm soát tài sản, thu nhập

Hiện nay, theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm: Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng; kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và động sản khác mà mỗi tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên; tài sản, tài khoản ở nước ngoài; tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai. Quy định như vậy là chung chung, chỉ nhắm đến những tài đã hình thành và đang bỏ sót một đối tượng khác là các tài sản hình thành trong tương lai (gồm tài sản chưa hình thành; tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch). Bản thân việc liệt kê các tài sản đã hình thành như khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn phòng, chống tham nhũng trong thực tế, không phản ánh đầy đủ bản chất, phạm vi của thu nhập, tài sản.

Để khắc phục hạn chế này, tác giả đề xuất ra 02 phương án:

Phương án 1 – Sửa đổi quy định của Điều 35 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018: Khi nghiên cứu phạm vi của tài sản, thu nhập mà Điều 35 quy định, dễ dàng nhận thấy một hạn chế trong pháp luật phòng, chống tham nhũng chính là việc không ghi nhận một khái niệm khoa học phản ánh đầu đủ nội hàm của “tài sản” và “thu nhập”. Thay vào đó, nhà làm luật chỉ dừng lại ở việc liệt kê một cách cơ học, dẫn đến việc phạm vi của khoản 1 Điều 35 có nguy cơ bị thiếu, không bao trùm được đến các đối tượng khác có thể xuất hiện trong thực tiễn phòng, chống tham nhũng.

Để thực hiện được phương án này, các nhà lập pháp cần phải xây dựng một khái niệm khoa học chung, phản ánh đúng bản chất của “tài sản”, “thu nhập” cũng như các khái niệm khác trong các quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến yêu cầu sửa đổi đồng bộ nhiều đạo luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật.

Phương án 2 – Ban hành các văn bản hướng dẫn, cụ thể hóa các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018: Trường hợp không sửa đổi Điều 35 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, cần phải có các văn bản hướng dẫn cụ thể, quy định chi tiết phạm vi của hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập đối với người có chức vụ, quyền hạn tại các cơ quan hành chính nhà nước cũng như người thân trong gia đình của đối tượng này. Cụ thể:

Một là, đối với đất, nhà, tài sản gắn liền với với đất mà đối tượng có nghĩa vụ kê khai phải kê khai, cần quy định rõ bao gồm: Quyền sử dụng đất; quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tài sản, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất, nhà, công trình xây dựng đã có, đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, tài sản theo quy định của pháp luật và trong cả trường hợp không có các giấy tờ trên nhưng đã sử dụng ổn định, lâu dài từ 12 tháng trở lên để phòng ngừa trường hợp các chủ tài sản thường “nhờ” thành viên khác đứng tên với các bản thỏa thuận lợi ích ngầm mà cơ quan chức năng không thể kiểm soát được (bao gồm cả trường hợp thuê, mượn, trông coi giúp tài sản, nhà ở…).

Hai là, ngoài tiền, tài sản đã hình thành, các khoản thu nhập…, cần xác định các tài sản hình thành trong tương lai, các giá trị hưởng lợi khác mà đối tượng bị kiểm soát tài sản, thu nhập đang hoặc sẽ được thụ hưởng trong tương lai thông qua các giao dịch, hợp đồng; các khoản bồi hoàn/bồi thường/bảo hiểm… Ngoài ra, để chặt chẽ, đề tài kiến nghị các chủ thể bị kiểm soát tài sản kê khai cả ô tô, tài khoản ngân hàng, thiết bị, nhà xưởng, các tài sản khác (đang quản lý, hưởng lợi…) tránh tình trạng “nhờ” đứng tên hộ.

Ba là, bổ sung các quy định về tài sản có giá trị trên 50.000.000 đồng cho nhóm tài sản là đồ mỹ nghệ, tranh ảnh, cây cảnh, thú nuôi có giá trị, đồ thờ tự, tiền điện tử và quyền tài sản với đối tượng thuộc sở hữu trí tuệ… Ngoài ra, việc cụ thể hóa đối với tài sản ở nước ngoài, tiền, tài khoản ngân hàng, tài khoản khác ở nước ngoài phù hợp với pháp luật quốc tế cũng phải được được liệt vào danh mục tài sản phải kiểm soát.

2. Hoàn thiện quy định pháp luật về phạm vi kiểm soát tài sản, thu nhập

Hiện tại, Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành đang phân loại đối tượng của hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập đối người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước thành hai nhóm chủ yếu: Cán bộ, công chức và những người thân thích của họ. Tuy nhiên, quy định như vậy là chưa thực sự đầy đủ, có thể tạo ra lỗ hổng trong công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước.

Nhằm bảo đảm tính bao quát của pháp luật về phòng, chống tham nhũng nói chung và hiệu quả của hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, cần bổ sung thêm các đối tượng phải tiến hành kê khai tài sản, thu nhập. Cụ thể, viên chức, người được làm việc trong lĩnh vực công trên cơ sở hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương cũng là những đối tượng của hoạt động kiểm soát thu nhập, tài sản.

Bên cạnh đó, căn cứ Điều 33 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, người thân thích được hiểu gồm vợ hoặc chồng, con chưa thành niên của cán bộ, công chức có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, bên cạnh các đối tượng trên người sống chung nhưng không đăng kết hôn; con chưa thành niên; các thành viên khác trong gia đình có sống chung; công chức, cán bộ cấp dưới hay những người có quan hệ thân tín đều là những người có năng thực hiện hành vi bao che, tẩu tán tài sản có được từ tham nhũng của người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan hành chính nhà nước.

Trên thế giới, một số quốc gia như Hoa Kỳ[1], Lithuana[2], Ấn Độ[3] áp dụng quy định theo hướng rộng, yêu cầu kiểm soát tài sản, thu nhập của tất cả các thành viên gia đình nói chung (family members) thay vì quy định cụ thể đối tượng nào thuộc phạm vi của hoạt động này. Như vậy, các đối tượng khác như anh, chị, em rể; anh, chị, em vợ; bố, mẹ vợ; bố, mẹ chồng… cũng không nằm ngoài phạm vi của hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập. Đặt trong bối cảnh Việt Nam là một quốc gia đề cao văn hóa gia đình đa thế hệ, việc xem xét mở rộng thêm đối tượng của hoạt động kê khai tài sản, thu nhập và biến động về tài sản, thu nhập như quy định của pháp luật hiện hành là yêu cầu cần thiết để có thể khắc phục lỗ hổng trong quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập. Theo chúng tôi, tùy cấp bậc, vị trí công tác, cần quy định người có chức vụ, quyền hạn có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, biến động về tài sản của cả các đối tượng là: Vợ/chồng, người sống chung như vợ/chồng; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ nuôi; bố, mẹ vợ/bố, mẹ chồng; anh, chị, em ruột; con đẻ/con nuôi trong trường hợp sống chung/sinh hoạt chung (nhà ở chung; thu, chi sinh hoạt phí chung; đối tượng cấp dưỡng/phụ thuộc nhau…).

3. Hoàn thiện quy định về biện pháp kiểm soát tài sản, thu nhập

3.1. Về việc công khai bản kê khai tài sản

Hiện nay việc công khai bản kê khai tại cơ quan, đơn vị thường mang tính hình thức dẫn tới thực tế không kê khai, chậm kê khai. Thời gian công khai bản kê khai thường ngắn, địa điểm lại “khó tiếp cận” hay gây khó khăn cho quá trình tiếp cận bản kê khai (bản kê khai được treo nơi gắn camera, trong tầm kiểm soát nhìn/quan sát của nhân viên văn thư, bảo vệ…). Vì vậy, cần có hướng dẫn cụ thể quy định về thời gian công khai (kiến nghị thời hạn này nên là 30 ngày); khi công khai cần có thông báo trên thông tin nội bộ; địa điểm công khai phải được bảo đảm an toàn, thuận lợi cho quá trình tiếp cận, theo dõi thông tin kê khai. Việc công khai cần lập biên bản và có sự xác nhận của đại diện công đoàn tại đơn vị, có như vậy mới bảo đảm cơ chế kiểm soát từ người lao động, tránh tính hình thức như hiện nay.

Bên cạnh việc kiểm soát tài sản minh bạch từ phía bên ngoài, để bảo đảm quyền riêng tư, quyền tài sản theo pháp luật dân sự có phải quy định rõ việc khai thác dữ liệu về tài sản cá nhân trong khoảng thời gian 30 ngày. Cụ thể nghiêm cấm hành vi sao, chụp, quay thông tin niêm yết sử dụng cho các mục đích trái quy định của pháp luật. Trường hợp để kiểm soát thông tin cần đề nghị cung cấp bản sao của các bản kê khai dẫn chiếu theo khoản 3 Điều 7 của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

Đây cũng là một trong những nội dung nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin kê khai đối với xã hội[4].

Ngoài ra, cần quy định nhất quán về hình thức công khai thông tin và khả năng tiếp cận thông tin đối với bản kê và các văn bản liên quan đến bản kê khai. Cụ thể: Kế hoạch xác minh tài sản của đơn vị hàng năm; Bản khai về tài sản, thu nhập của cá nhân; Bản giải trình nguồn gốc tăng thêm; Quyết định xác minh và kết quả xác minh tài sản thu nhập; Quyết định kỷ luật cán bộ có vi phạm về kiểm soát tài sản, thu nhập… được công khai bằng hình thức niêm yết tại đơn vị, chỉ một số cơ quan, tổ chức, cá nhân được phép tiếp cận thông tin về các bản kê khai và việc tiếp cận đó phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin có điều kiện[5], tránh cách quy định mâu thuẫn giữa hình thức công khai nhưng nội dung văn bản lại “bí mật” về điều kiện tiếp nhận như dự thảo Nghị định hiện nay[6].

3.2. Về lựa chọn đối tượng xác minh tài sản thu nhập

Hiện nay theo quy định tại Điều 41 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, việc xác minh được tiến hành dựa trên 05 căn cứ. Theo đó, các đối tượng phải xác minh tài sản có thể chia thành: (i) Các đối tượng buộc phải xác minh; (ii) Các đối tượng được xác minh ngẫu nhiên. Tuy nhiên với các đối tượng được xác minh ngẫu nhiên, số lượng đối tượng được lựa chọn cũng như cách thức lựa chọn ra sao vẫn đang được các cơ quan soạn thảo dự thảo về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn xây dựng. Theo đó, cơ quan chủ trì là Thanh tra Chính phủ đề xuất sử dụng phương pháp bốc thăm hoặc sử dụng phần mềm lựa chọn ngẫu nhiên[7]. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả của việc lựa chọn đối tượng xác minh, bảo đảm tính công khai, công bằng trong hoạt động lựa chọn đối tượng xác minh tài sản thu nhập, cần xem xét thực hiện một số biện pháp sau:

Một là, quy định số lượng các đơn vị/cơ quan (luân phiên) phải xác minh tài sản thu nhập tối thiểu 15% cả ở Trung ương và địa phương (bảo đảm tối thiểu 03 đơn vị trở lên đối với bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương);

Hai là, quy định số lượng cá nhân phải xác minh tài sản thu nhập trong mỗi cơ quan, đơn vị tối thiểu 02 cá nhân, trong đó bắt buộc 01 cá nhân là cấp trưởng hay cấp phó của đơn vị;

Ba là, xác định một số đối tượng được loại trừ như: Người đang bị điều tra, truy tố, xét xử (đối tượng sẽ tuân theo quy trình riêng về tố tụng), người mắc bệnh hiểm nghèo được cơ sở y tế xác nhận đang điều trị, người đã được xác minh tài sản, thu nhập trong 03 năm liền kề trước đó tính đến thời điểm phê duyệt kế hoạch xác minh tài sản, cá nhân đang học tập, công tác tại nước ngoài từ 12 tháng trở lên… nhằm loại trừ đối tượng ngay từ khi thủ trưởng đơn vị xây dựng kế hoạch xác minh tài sản thu nhập. Điều này khắc phục tình trạng các đơn vị cố tình đưa một số đối tượng thuộc diện này vào để bảo đảm đủ tiêu chuẩn định mức số lượng nhưng không khả thi trong quá trình xác minh như số liệu Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng chống tham nhũng giai đoạn từ 2015 – 2018 (phần kiểm soát tài sản).

4. Hoàn hiện quy định về các biện pháp xử lý vi phạm quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập

Thực tế cho thấy dù Luật phòng, chống tham nhũng hiện hành đã quy đinh chi tiết trách nhiệm pháp lý đối với 03 nhóm đối tượng: (i) Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; (ii) Người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ; (iii) Người có nghĩa vụ kê khai không thuộc hai trường hợp nêu trên. Nhưng vấn đề xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc vẫn còn bất cập, chưa hoàn thiện về khung pháp lý.

Ở Việt Nam, việc xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc được thực hiện chưa hiệu quả. Cách quy định hiện nay về vấn đề này còn chung chung và thường khó chứng minh cũng như thu hồi triệt để đúng, đủ tài sản tài sản, thu nhập mà không chứng minh được nguồn gốc ở Việt Nam. Để giải quyết được vấn đề này, các quốc gia trên thế giới đã có một số giải pháp cụ thể:

– Trường hợp Nhà nước không chứng minh được tài sản, thu nhập tăng thêm của người có nghĩa vụ kê khai do phạm tội, vi phạm pháp luật mà có thì tạm coi đây là một khoản một khoản thu nhập phải chịu thuế, người kê khai phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Bên cạnh đó, xem xét bổ sung thêm một loại chế tài hình sự để xử lý hành vi kê khai không trung thực bên cạnh chế tài xử lý kỷ luật như pháp luật hiện hành; thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước trong việc xử lý hành vi kê khai, giải trình không hợp lý về nguồn gốc tài sản, thu nhập.

– Một số quốc gia khác lựa chọn giải quyết vấn đề tài sản thông qua thiết chế Tòa án. Theo phương án này, đối với tài sản, thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập sẽ chuyển kết luận xác minh và các tài liệu có liên quan để yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ thực tiễn của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, nhất là những vướng mắc, khó khăn khi thực hiện thu hồi tài sản tham nhũng, giải trình, xác minh nguồn gốc của tài sản, tác giả đề xuất:

Thứ nhất, cần nhanh chóng bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự, chế tài kỷ luật về xử lý hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực dưới dạng nghị định, thông tư hay văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật, luật liên quan. Việc quy định và xử lý như hiện nay chưa thực sự thể hiện tính nghiêm minh với các biện pháp pháp lý mạnh mẽ để đấu tranh phòng, chống tội phạm đặc biệt là việc thu hồi tài sản tham nhũng. Đây được coi là một trong những nguy cơ gây xói mòn niềm tin của nhân dân với chính quyền và xa hơn là ảnh hưởng đến sức mạnh, sự tồn vong của hệ thống chính trị.

Thứ hai, không áp dụng phương pháp hợp thức hóa các tài sản, thu nhập mà Nhà nước không chứng minh được nguồn gốc bằng cách nộp thuế. Bởi lẽ đặt trong bối cảnh quốc tế hiện nay, nếu quy định tài sản không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp là một khoản thu nhập phải chịu thuế (người kê khai phải nộp thuế thu nhập cá nhân) sẽ tiềm ẩn nguy cơ cho các hoạt động rửa tiền từ nước ngoài đổ vào Việt Nam (dù chúng ta đã có Luật Phòng, chống rửa tiền) hay ở một khía cạnh nào đó nảy sinh tâm lý “tận thu”, “vơ vét”… để thông qua hoạt động nộp thuế thu nhập lại hợp pháp hóa được tài sản, minh bạch được nguồn gốc tài sản bất minh của mình.

Thứ ba, trường hợp cá nhân, tổ chức không được cơ quan kiểm soát chấp nhận minh chứng được nguồn gốc hợp pháp của tài sản, không đồng tình với kết luận minh chứng từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm soát tài sản; cơ quan kiểm soát tài sản không chứng minh tính bất hợp pháp của nguồn gốc tài sản thì vụ việc cần phải được giải quyết thông qua hoạt động của một cơ quan tài phán độc lập là Tòa án. Bằng quyền năng và sự độc lập tuân theo pháp luật, Tòa án nhân dân là chủ thể có thẩm quyền xem xét, quyết định về tính hợp lý của việc giải trình. Tòa án ra quyết định: Chấp thuận minh chứng của chủ thể bị kiểm soát, kê khai tài sản; bác bỏ minh chứng, yêu cầu thu hồi tài sản, thu nhập tăng thêm cho Nhà nước nếu người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc; bác bỏ quyết định/yêu cầu của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập trong trường hợp người có nghĩa vụ kê khai đã giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm…

Đây đồng thời là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp mà Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận.

Thứ tư, tăng cường quản lý, kiểm soát thuế thu nhập cá nhân và ứng dụng các biện pháp thanh toán không dùng tiền mặt (kiểm soát thu đầu vào và chi). Đây có thể coi là biện pháp nền tảng nhất nhằm bảo đảm kiểm soát được thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn kể cả trong khu vực Nhà nước và khu vực tư. Cần xem xét quy định mọi khoản thanh toán có giá trị lớn của người có chức vụ, quyền hạn bắt buộc phải được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng mà không sử dụng tiền mặt, từng bước tăng cường hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán của nền kinh tế là biện pháp quan trọng trong kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nói chung và nhằm phòng, chống tội phạm nói riêng, trong đó có tội phạm về tham nhũng.

Thứ năm, bên cạnh đó, Điều 18 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định cơ quan nhà nước trong phạm vi thẩm quyền của mình có trách nhiệm: (i) Xây dựng, ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ; (ii) Công khai quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ; (iii) Thực hiện và công khai kết quả thực hiện quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ. Từ quy định khái quát trong Luật này, việc xây dựng, ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ và công khai này cần quy định rõ về thời gian thực hiện, hình thức công khai, thống nhất định mức trong các ngành trên phạm vi chung cả nước, tránh tình trạng cục bộ của từng địa phương hay có sự xung đột lợi ích giữa các ngành, nghề. Có cơ chế xử lý đối với người đứng đầu các cơ quan, đơn vị làm không đúng quy định.

5. Hoàn thiện thể chế kiện toàn tổ chức bộ máy kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy do việc kiểm soát tài sản, thu nhập đang tác động trực tiếp đến địa hạt của an ninh thông tin, quyền bảo đảm bí mật đời tư của cá nhân nên đặt ra yêu cầu phải được quy định cụ thể trong pháp luật quốc gia. Việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn do nhiều thiết chế khác nhau tiến hành bao gồm cả cơ quan có thẩm quyền của nhà nước, các thiết chế truyền thông, xã hội dân sự, và các công dân[8] trên cơ sở của pháp luật. Việc để nhiều thiết chế được tham gia vào công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn giúp nâng cao hiệu quả của công tác này đồng thời giúp việc thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng trở nên mạnh mẽ hơn.

Ở Việt Nam, Luật Phòng chống tham nhũng 2018 giao Thanh tra Chính phủ kiểm soát tài sản, thu nhập của người giữ chức vụ từ Giám đốc Sở và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, doanh nghiệp nhà nước; giao Thanh tra tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương) kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương; giao cho các cơ quan khác và tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập của người có trách nhiệm kê khai công tác trong cơ quan, tổ chức mình. Việc quy định này đã tạo ra sự chuyên nghiệp trong việc thực hiện kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, tăng tính trách nhiệm và hiệu quả của công tác này. Trong trường hợp có dấu hiệu tội phạm, theo quy định, Cơ quan Thanh tra sẽ hoàn thiện bổ sung hồ sơ, gửi hồ sơ cho Cơ quan Điều tra để tiến hành khởi tố vụ án hình sự.

Trong thời gian tới, cần phát huy vai trò của cơ quan Thanh tra trong kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, cụ thể:

Một là, sửa đổi, bổ sung lại pháp luật về tổ chức Cơ quan Thanh tra, ghi nhận nguyên tắc độc lập của cơ quan này trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Cho tới nay, “độc lập” vẫn chưa được quy định là một nguyên tắc trong Luật Thanh tra năm 2010. Hạn chế này thể hiện ngay chính trong hoạt động của Cơ quan Thanh tra các cấp, phải phụ thuộc vào người đứng đầu đơn vị hành chính và cơ chế tài chính của đơn vị hành chính chủ quản tương ứng.

Hai là, cần phải triển khai là xây dựng một cơ chế tài chính độc lập tổ chức theo chiều dọc của ngành thanh tra. Hàng năm, Quốc hội cấp ngân sách cho Chính phủ, Chính phủ dựa trên căn cứ thực tiễn hoạt động của ngành thanh tra sẽ cấp ngân sách cho đầu mối là Thanh tra Chính phủ để cơ quan này làm đầu mối thực hiện việc phân bổ ngân sách trong ngành. Trong bối cảnh hoạt động kiểm soát tài sản nhắm trực tiếp vào đối tượng là người học chức vụ, quyền hạn – những người vừa có sức mạnh về mặt chính trị, vừa có tiềm lực việc tạo các cơ chế hoạt động độc lập cho Cơ quan Thanh tra lại càng phải được chú trọng trong giai đoạn tới.

Ba là, xem xét đưa Cơ quan Thanh tra trở thành một trong các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, trao cho cơ quan này quyền khởi tố khi phát hiện dấu hiệu vi phạm hình sự. Đây là một vấn đề có căn cứ bởi lẽ để tiến hành hoạt động của mình, theo quy định của pháp luật, Cơ quan Thanh tra cũng phải tiến hành một số hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, tài liệu, được phép áp dụng một số biện pháp nghiệp vụ luật định. Theo Thông tư số 05/2014/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra, trong quá trình chuẩn bị thanh tra, việc thu thập thông tin, tài liệu, nắm tình hình để phục vụ cho việc ban hành quyết định thanh tra được tiến hành. Thanh tra viên có trách nhiệm nghiên cứu tài liệu, thông tin, làm rõ các vấn đề liên quan đến thanh tra, trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm sẽ hoàn thiện hồ sơ, chuyển hồ sơ cho Cơ quan Điều tra (Điều 30).

Việc chuyển hồ sơ cho Cơ quan Điều tra đang làm kéo dài thời gian, tạo điều kiện cho người, cơ quan thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội nói chung và tội tham nhũng nói riêng có thể tiến hành tiêu hủy vật, tiền, tài sản, tài liệu liên quan đến vụ việc, gây khó khăn cho quá trình điều tra sau này. Chính vì vậy, việc trao thẩm quyền khởi tố cho Cơ quan Thanh tra là một điều cần cân nhắc nghiên cứu để tăng cường hiệu quả của công tác bảo vệ pháp luật trong quá trình đấu tranh với tội phạm tham nhũng nói riêng, đối với vi phạm pháp luật trong kiểm soát, tài sản thu nhập cả từ phía chủ thể kiểm soát và bị kiểm soát nói riêng.

Kết luận

Tham nhũng gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tiềm ẩn nguy cơ gây ra các xung đột về lợi ích, các phản kháng về xã hội, làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo và đang trở thành vật cản lớn đối với sự thành công của công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện từ nhiều năm nay. Hoàn thiện thể kiểm soát thu nhập, tài sản của người có chức vụ, quyền hạn được xác định là một trong những công cụ quan trọng, là một trong những giải pháp phòng, chống tham nhũng hiệu quả, đã được pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia ghi nhận./.

TS. NGUYỄN THÚY HOA
Học viện Chính trị khu vực I
Tạp chí Dân chủ & Pháp luật
[1] Xem: The United States, The Ethics in Government Act of 1978 (“Ethics Act”), Article 105.3.B.
[2] Xem: Lithuana, Property and Income Declaration Law, Article 2.1, 2.2.
[3] Xem: India, The 1964 Central Civil Service Conduct Rules, Rule 18.
[4] Thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện
[5] Quy định thống nhất với nội dung của Luật tiếp cận thông tin, Điều 7, khoản 3
[6] Xung đột nội dung công khai và phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước giữa các điều 14, 25, 29 trong dự thảo Nghị định về kiểm soát tài sản
[7] Xem: Thái Sơn, Bốc thăm xác minh tài sản, thu nhập hàng năm của cán bộ, https://thanhnien.vn/thoi-su/boc-tham-xac-minh-tai-san-thu-nhap-hang-nam-cua-can-bo-1224455.html, ngày truy cập 13/9/2020.
[8] Xem: Maíra Martini, U4 Expert Answer, Asset declaration regimes in selected Asian countries, Anti-Corruption Resource Center, No 381, 2013, p.7.