Làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào?

17/05/2020 09:00

(LSO) – Làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc được hiểu là hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, những người khác có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự nào mà thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc.

Đại diện các cơ quan tiến hành tố tụng tham dự phiên giám đóc thẩm vụ án Hồ Duy Hải.

Hồ sơ vụ án, vụ việc là tập hợp những tài liệu, vật chứng được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, vụ việc theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định nhằm bảo đảm tính khách quan, toàn diện, đầy đủ để phục vụ cho việc giải quyết vụ án, vụ việc đúng pháp luật.

Hồ sơ vụ án, vụ việc bao gồm hồ sơ vụ án hình sự; hồ sơ vụ án dân sự, hồ sơ việc dân sự; hồ sơ vụ án kinh doanh, thương mại, hồ sơ việc kinh doanh, thương mại; hồ sơ vụ án lao động, hồ sơ việc lao động; hồ sơ vụ án hành chính.

Khách thể của hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc xâm hại trực tiếp đến nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, vụ việc. Do hồ sơ bị làm sai lệch nên việc giải quyết của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng không còn phản ánh đúng với sự thật khách quan dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, hoặc gây ra thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

Mặt khách quan của tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc là hành vi của người có nhiệm vụ trực tiếp quản lý hồ sơ vụ án, vụ việc hoặc do tính chất nghề nghiệp được tiếp xúc với hồ sơ vụ án đã lợi dung điều kiện công tác này để thêm bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc bằng các thủ đoạn khác làm hư hỏng tài liệu, vật chứng của vụ án…(như ghi lời khai của bị can, bị cáo theo hướng gỡ tội hoặc buộc tội cho họ; thêm, bớt hoặc thay đổi lời khái của những người tham gia tố tụng nhằm giảm nhẹ hoặc tăng nặng) trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo; bỏ ngoài hồ sơ những tài liệu chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với việc buộc tội hoặc gỡ tội; ép buộc người bị hại làm đơn xin miễn truy cứu hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; sửa đổi nội dung kết luận tỷ lệ thương tật của người bị hại, kết luận giám định…; sửa đổi hoặc tiêu hủy bản di chúc, bản hợp đồng đang có tranh chấp… nhằm làm cho nội dung vụ án, vụ việc bị sai lệch, không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, vụ việc.

Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc có cấu thành hình thức nên được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong những hành vi sau đây:

– Thêm tài liệu, vật chứng vào hồ sơ vụ án, vụ việc mà những tài liệu, vật chứng đó không được thu thập theo quy định của pháp luật;

– Bớt các tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án, vụ việc là hành vi làm cho hồ sơ vụ án, vụ việc thiếu đi những tài liệu đã thu thập, giao nộp theo quy định của pháp luật;

– Sửa đổi các tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án, vụ việc là hành vi làm cho tài liệu đã được thu thập theo quy định của pháp luật không còn nguyên giá trị ban đầu khi được thu thập. Ví dụ như các hành vi sửa chữa, thêm, bớt, tẩy xóa các thông tin trong các tài liệu.

– Đánh tráo các tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án, vụ việc là hành vi thay vào hồ sơ vụ án các tài liệu, vật chứng khác làm cho tài liệu, vật chứng được đưa vào hồ sơ không phản ảnh đúng sự thật khách quan;

– Hủy hoại hoặc làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án, vụ việc là hành vi làm cho các tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án, vụ việc mất giá trị ban đầu. Ví dụ như tiêu hủy lời khai, hóa đơn, chứng từ, hợp đồng…

– Các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc là các hành vi khác nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc, ngoài các hành vi đã được liệt kê ở trên.

Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao bác kháng nghị của VKSND tối cao trong vụ án Hồ Duy Hải.

Chủ thể của tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc là chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp hoặc là người tham gia vào hoạt động tư pháp và do vậy có liên quan đến hồ sơ vụ án, vụ việc. Những người đó là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án hoặc là những người có điều kiện tiếp xúc hồ sơ vụ án, vụ việc, có thể làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc như cán bộ điều tra ở Cơ quan điều tra; thẩm tra viên, chuyên viên pháp lý của Tòa án; kiểm tra viên, chuyên viên pháp lý của Viện kiểm sát; được phân công nhiệm vụ tham gia giải quyết vụ án.

Chủ thể của tội phạm này còn có thể là những người tham gia tố tụng có điều kiện tiếp xúc hồ sơ vụ án, vụ việc, có thể làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc như người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự.

Về mặt chủ quan của tội phạm, tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của mình và do đó mong muốn hậu quả xảy ra.

Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm; hành vi vô ý làm hư hỏng, làm thất lạc các tài liệu, vật chứng của vụ án, vụ việc không cấu thành tội phạm này.

Hình phạt của tội phạm này được quy định tại Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015.

Điều 375. Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc
1.    Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, người khác có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng tài liệu, vật chứng của vụ án, vụ việc hoặc bằng thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2.    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a, Có tổ chức;
b, Dẫn đến việc giải quyết vụ án, vụ việc bị sai lệch;
c, Gây thiệt hại từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
3.    Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a, Dẫn đến việc kết án oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội;
b, Làm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự tự sát;
c, Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.
4.    Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Luật sư LÊ TRỌNG HÙNG