Những thách thức đối với hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam khi EVFTA có hiệu lực

08/08/2020 07:25

Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu vừa được ký kết, đây là một hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và Liên minh châu Âu. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến những thuận lợi và khó khăn đối với mặt hàng hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang Liên minh châu Âu khi Hiệp định có hiệu lực.

Một số nội dung chính của Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu

Liên minh Châu Âu (EU) là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư. Về xuất khẩu, EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam với các sản phẩm truyền thống dựa trên lợi thế lao động như hàng dệt may, giày dép các loại, cà phê, hải sản, máy vi tính…

Về nhập khẩu, Việt Nam nhập khẩu từ hầu hết các nước thành viên EU, với các mặt hàng chủ yếu là máy móc thiết bị, dụng cụ, dược phẩm, sữa và sản phẩm từ sữa. Đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam chủ yếu là các lĩnh vực có thế mạnh như công nghệ cao, năng lượng sạch, tự động hóa, tài chính – ngân hàng, vận tải, logistics, qua đó hỗ trợ Việt Nam tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững.

Ảnh minh họa.

Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có phạm vi cam kết rộng với mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam tính từ trước đến nay và cũng là hiệp định thương mại tự do đầu tiên của EU với một quốc gia có mức thu nhập trung bình. EVFTA bao gồm 17 chương, 02 nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ. Bốn lĩnh vực cơ bản của Hiệp định là thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ; đầu tư và sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, EVFTA còn thêm 09 lĩnh vực khác như quy tắc xuất xứ; cạnh tranh, phát triển bền vững; các vấn đề về phòng vệ thương mại, bán phá giá…

Về thương mại hàng hóa, EU cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi EVFTA có hiệu lực đối với hàng hóa của Việt Nam thuộc 85,6% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU. Trong vòng 07 năm kể từ khi EVFTA có hiệu lực, EU cam kết xóa bỏ 99,2% số dòng thuế trong biểu thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU. Đối với 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại (bao gồm một số sản phẩm gạo, ngô ngọt, tỏi, nấm, đường và các sản phẩm chứa hàm lượng đường cao…). EU cam kết mở cửa cho Việt Nam theo hạn ngạch thuế quan (TRQs) với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%. Về thuế xuất khẩu của Việt Nam, Việt Nam cam kết xóa bỏ hầu hết các loại thuế xuất khẩu đối với hàng hóa xuất sang EU.

Về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, hai bên thỏa thuận tăng cường thực hiện các quy tắc của Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (Hiệp định TBT) trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đối với các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS) Việt Nam và EU đã đạt được thỏa thuận về một số nguyên tắc về SPS nhằm tạo điều kiện cho hoạt động thương mại đối với các sản phẩm động vật, thực vật.

Về quy tắc xuất xứ, hàng hóa sẽ được coi là có xuất xứ tại một bên (Việt Nam hoặc EU) nếu đáp ứng được một trong các yêu cầu mà hai bên đã thống nhất: Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của bên xuất khẩu; không có xuất xứ thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của bên xuất khẩu nhưng đáp ứng được các yêu cầu như hàm lượng giá trị nội địa không dưới 40%…

Về thương mại dịch vụ và đầu tư, cam kết của Việt Nam và EU trong EVFTA về thương mại dịch vụ đầu tư hướng tới tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên. Trong đó, cam kết của EU cho Việt Nam cao hơn cam kết của EU trong WTO và tương đương với mức cao nhất trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) gần đây của EU. Cam kết của Việt Nam cho EU cao hơn cam kết của Việt Nam trong WTO và ít nhất là ngang bằng với mức mở cửa cao nhất mà Việt Nam thực hiện với các đối tác khác trong các đàm phán FTA hiện tại.

Ngoài ra, Hiệp định cũng đề cập đến một số vấn đề về cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và phát triển bền vững (bao gồm cả môi trường, lao động), các vấn đề pháp lý – thể chế, hợp tác và xây dựng năng lực.

Những cơ hội và thách thức đối với hàng nông sản xuất khẩu

Cơ hội

Khi EVFTA có hiệu lực, toàn bộ sản phẩm xuất khẩu chính, mũi nhọn của Việt Nam là nông sản như: Gạo, cà phê, mật ong, chăn nuôi, hoa quả, thủy sản… đều hưởng ưu đãi từ năm đầu. Cụ thể, khoảng 50% số dòng thuế ngành thủy sản sẽ được xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực, giảm từ 6% – 22% hiện nay về 0%. Sau 03 năm EVFTA có hiệu lực, hai sản phẩm chủ lực là cá tra phi lê tươi, ướp lạnh (HS 030432) thuế sẽ giảm từ 9% xuống 0%, cá tra phi lê đông lạnh (HS 030462) sẽ giảm từ 5,5% xuống còn 0%; sản phẩm cá tra đông lạnh (HS 030324) được xóa bỏ thuế trong vòng 03 năm từ mức 8% như hiện nay.

Các sản phẩm hải sản khác như hàu, điệp, mực… sẽ được giảm thuế nhập khẩu ngay về 0% từ mức 20%. Các sản phẩm mực, bạch tuộc đông lạnh hiện đang chịu có mức thuế 6 – 8% sẽ giảm ngay về 0%, cá cờ kiếm từ 7,5% về 0%… Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, hiện EU đang là thị trường xuất khẩu thủy sản đứng thứ hai của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 17% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), riêng sản phẩm tôm sang EU chiếm 22% tỷ trọng, cá tra chiếm 11% và 30 – 35% tỷ trọng các mặt hàng hải sản khác.

Các sản phẩm rau củ quả tươi và chế biến, nước trái cây; cà phê, tiêu, điều, mật ong tự nhiên… cũng được xóa bỏ thuế ngay khi EVFTA có hiệu lực. EU cũng dành tổng lượng hạn ngạch gạo khoảng 80.000 tấn/năm đối với gạo xay xát, gạo chưa xay xát và gạo thơm với mức thuế 0%… Một số ít mặt hàng nông sản nhạy cảm không được miễn thuế hoàn toàn nhưng chỉ áp dụng hạng ngạch thuế quan như: Ngô ngọt, tỏi, nấm hương, đường và các sản phẩm có hàm lượng đường cao…

Đáng lưu ý, việc thu hút đầu tư trực tiếp từ EU mà Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (VIPA) sẽ khuyến khích các dự án đầu tư công nghệ cao, công nghệ sạch vào lĩnh vực chế biến nông sản, giúp ngành nông nghiệp phát triển, tạo ra các sản phẩm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật vượt qua được các quy định về SPS và các rào cản kỹ thuật thương mại khác của EU. Qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ tiếp cận tốt hơn với công nghệ và cải thiện được năng lực quản lý.

Đối với mặt hàng nông sản, Việt Nam hiện có nhiều công ty đa quốc gia đang đầu tư phát triển nông sản chất lượng cao. Chẳng hạn như Bayer là một tập đoàn toàn cầu bắt nguồn từ Cộng hòa Liên bang Đức, hiện diện trên 90 quốc gia trên toàn thế giới. Hoạt động kinh doanh của Bayer phụ thuộc vào chuỗi giá trị đa dạng với các hoạt động nghiên cứu và phát triển được thực hiện tại nhiều nơi, sản xuất phân bổ rộng về mặt địa lý và các môi trường pháp lý phần lớn được quốc hữu hóa.

Nhiều năm qua, Bayer đã ứng dụng các phát minh và biện pháp kỹ thuật tiên tiến, nâng cao năng lực sản xuất cho người nông dân, góp phần vào phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, để hàng nông sản Việt Nam có cơ hội tiếp cận được với thị trường EU, doanh nghiệp và người nông dân rất cần được cập nhật kiến thức cơ bản về quy trình trồng trọt, hướng dẫn đạt các bộ tiêu chí cơ bản về chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, dư lượng thuốc kháng sinh, dư lượng chất bảo quản thực vật…

Thách thức

Bên cạnh những cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu, hàng nông sản của Việt Nam vẫn phải đối mặt với không ít thách thức khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực.

Trước hết, đó là vấn đề hàng rào kỹ thuật trong thương mại và quy tắc xuất xứ hàng hóaDo việc phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ Việt Nam được hưởng ưu đãi về thuế, nên các nước thành viên EU sẽ rất chú trọng tới các quy định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) và quy tắc xuất xứ hàng hóa (C/O).

Cụ thể, hiện nay việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ cũng như các quy định về kiểm dịch động thực vật (SPS) là vấn đề đáng quan ngại nhất đối với sản phẩm nông sản và các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này. Hiệp định EVFTA hướng tới mức độ xóa bỏ thuế nhập khẩu lên tới 99,2% số dòng thuế.

Tuy nhiên, để được hưởng mức ưu đãi này, hàng xuất khẩu sang EU cần thỏa mãn quy tắc xuất xứ, đây có thể là một cản trở đối với hàng xuất khẩu Việt Nam bởi nguồn nguyên liệu cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc và ASEAN. Nếu không đảm bảo được quy tắc xuất xứ, hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU chỉ được hưởng mức thuế đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) chứ không phải là mức thuế suất 0% như trong EVFTA. Các quy định về truy xuất nguồn gốc của các nước nhập khẩu hàng hóa ngày càng chặt chẽ và khắt khe hơn, nguy cơ hàng Việt bị “mượn danh” xuất sang EU cũng từng được các chuyên gia kinh tế cảnh báo. Điều này gây ra nhiều hệ lụy khiến hàng hóa Việt Nam xuất vào EU có thể bị áp thuế chống bán phá giá cao.

Về vấn đề SPS để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho thị trường EU hiện nay đáng quan tâm nhất là mặt hàng nông sản. Dù trước mắt EVFTA có ưu đãi với những quy định SPS linh hoạt nhưng đa số ngành hàng nông sản của nước ta như chè, rau quả… vẫn nhỏ lẻ, tự phát, trong khi ở một số nơi, nông dân chưa được hướng dẫn về sản xuất sạch, an toàn, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng chuỗi giá trị toàn cầu cho nông sản.

Như vậy, một số mặt hàng nông sản và các sản phẩm thủy sản của Việt Nam sẽ đứng trước đòi hỏi rất cao từ phía khách hàng như: Cam kết về chất lượng, mẫu mã, giá cả, tính chuyên nghiệp… hoặc việc tăng chi phí. Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần phải lưu ý về khả năng EU có thể sẽ tăng hàng rào phi thuế quan đối với sản phẩm nhập khẩu, trong đó, các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng sẽ ngặt nghèo hơn nữa.

Ngoài ra, EU rất coi trọng trách nhiệm xã hội, minh bạch hóa thông tin về lao động, môi trường sản xuất, chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không đăng ký đối với hàng thủy sản.

Ngoài ra, một số vấn đề khác như sở hữu trí tuệ, lao động, bảo vệ môi trường cũng là những thách thức đối với doanh nghiệp, cụ thể:

Về sở hữu trí tuệ, trong khi Việt Nam còn khá thờ ơ với vấn đề sở hữu trí tuệ, thì đây lại là yêu cầu đặt lên hàng đầu từ phía EU. Thậm chí, đòi hỏi về bảo hộ sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư EU còn cao hơn đòi hỏi về quyền sở hữu trí tuệ trong WTO. Việt Nam cần đặc biệt chú ý tới những quy tắc về sở hữu trí tuệ trong EVFTA để có thể khai thác được lợi ích từ Hiệp định này.

Về sử dụng lao động, dù có nhiều nỗ lực nhưng tại các doanh nghiệp Việt Nam vẫn tồn tại vướng mắc khi áp dụng các tiêu chuẩn lao động. Những vướng mắc phổ biến liên quan đến việc người lao động làm thêm quá số giờ quy định; quy định về nghỉ tuần, nghỉ lễ; môi trường làm việc, vệ sinh an toàn lao động; quyền tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đầy đủ, quyền được hỗ trợ của lao động nữ nơi làm việc và nuôi con nhỏ… Nếu không giải quyết, vấn đề này có thể là một rào cản lớn đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU.

Về bảo vệ môi trường, Việt Nam vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc thực hiện các nghĩa vụ về môi trường trong khuôn khổ các ràng buộc và điều chỉnh của các hiệp định đa phương về môi trường và Hiệp định EVFTA hiện nay. Theo đó, những vấn đề sau liên quan đến bảo vệ môi trường mà Việt Nam cần tuân thủ khi xuất khẩu hàng hóa sang EU, như: Đa dạng sinh học và sinh vật ngoại lai; biến đổi khí hậu; bảo vệ tầng ô zôn; đánh bắt hải sản; hàng hóa và dịch vụ môi trường; trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; cơ chế tự nguyện bảo vệ môi trường; gắn nhãn sinh thái lên hàng hóa xuất khẩu…

Như chúng ta đã biết ở Việt Nam, nguồn lực dành cho hoạt động bảo vệ môi trường còn hạn chế, ý thức và năng lực của cán bộ quản lý cũng như người dân chưa cao ảnh hưởng đến việc thực thi một cách nghiêm túc các nghĩa vụ liên quan đến môi trường. Thực trạng này đặt ra những thách thức không nhỏ cho Việt Nam khi phải thực hiện các yêu cầu của EU về trách nhiệm bảo vệ môi trường, vì đối với các nước phát triển như EU vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh rất quan trọng, nếu chúng ta không tuân thủ, không chấp nhận các yêu cầu đặt ra từ EVFTA sẽ bị khởi kiện trước Trọng tài quốc tế và mức phạt vi phạm không hề nhỏ cũng như các chi phí liên quan rất tốn kém như chi phí thuê luật sư, chi phí trọng tài…

Việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ hay vượt qua được các rào cản kỹ thuật, kiểm dịch động thực vật là các vấn đề đáng quan ngại đối với nhiều doanh nghiệp. Trước mắt, nên từng bước phát triển sản phẩm hữu cơ vì ngày càng nhiều người tiêu dùng EU thích các sản phẩm thực phẩm được sản xuất và chế biến bằng phương pháp tự nhiên. Còn đối với các mặt hàng có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì phải tuân thủ các quy định rất nghiêm ngặt.

Cụ thể, EU đã đặt ra mức dư lượng tối đa (MRLs) đối với thuốc trừ sâu trong và trên thực phẩm. Việc thực hiện nghiêm chỉnh các MRLs và ngăn ngừa vi khuẩn lây nhiễm là những điều kiện tiên quyết để vào thị trường châu Âu.

Đối với nhóm rau củ và rau quả tươi cần phải có sự liên kết chặt chẽ hơn giữa nhà xuất khẩu với người sản xuất đảm bảo nguyên liệu đạt chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của EU; cần thiết phải triển khai hệ thống truy nguyên liệu xuất khẩu và vùng sản xuất phải đạt chuẩn Viet GAP. Tuy nhiên, để mở rộng thị trường xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam phải áp dụng Global GAP hoặc EuroGAP. Rau quả tươi Việt Nam chủ yếu bán trong các cửa hàng nhỏ lẻ châu Á, chưa có mặt trong các siêu thị lớn ở châu Âu như Tesco (Anh), Kaufland, Macro (Đức), Migros (Thụy sĩ)… Như vậy có thể thấy, việc mở và giữ được thị trường cho từng loại rau quả tại thị trường EU là không hề đơn giản.

Một số giải pháp

Thứ nhất, cần sớm hoàn thiện chính sách pháp luật liên quan đến các vấn đề mà Việt Nam còn nhiều khó khăn, vướng mắc khi thực thi Hiệp định EVFTA như: Hàng rào kỹ thuật trong thương mại, quy tắc xuất xứ, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường. Theo đó, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để đảm bảo sự tương thích và phù hợp với chuẩn mực quốc tế nói chung cũng như phù hợp với quy định của EVFTA nói riêng. Đồng thời, cần quy định các chế tài đủ mạnh, mang tính răn đe cao đối với các hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường…

Thứ hai, phải có kế hoạch đầu tư dài hạn, chú trọng tổ chức lại sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, đáp ứng các tiêu chuẩn về sản xuất sạch như Viet GAP, Global GAP. Các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất hàng nông sản nên lưu ý trên toàn bộ chuỗi giá trị, các khâu sản xuất phải được phòng vệ rủi ro; truy xuất nguồn gốc, tem nhãn của sản phẩm… phải công khai, minh bạch, tạo đà cho xuất khẩu nông sản sang EU tăng trưởng bền vững.

Thứ ba, tăng cường đầu tư công nghệ nhằm nâng cao chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm và đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật khác; đầu tư công nghệ xử lý chất thải, khí thải, đảm bảo các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường theo cam kết trong EVFTA; phát triển mạnh hình thức thuê mua tài chính trong mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ cho các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm nâng cao khả năng phát triển và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần chủ động tìm hướng hợp tác với các nhà đầu tư của các nước thành viên EU để thu hút mạnh mẽ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, nhằm tận dụng hiệu quả nguồn vốn và việc chuyển giao công nghệ từ các nhà đầu tư. Trước mắt, cần liên kết với các tập đoàn siêu thị lớn của châu Âu đang đầu tư ở Việt Nam để xuất khẩu các sản phẩm nông sản thực phẩm bán tại các chuỗi siêu thị ở nước ngoài để người tiêu dùng châu Âu quen dần với hàng của Việt Nam (vấn đề này doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện thành công với Metro, Big C trước đây và với Aeon hiện nay). Đây cũng chính là cơ hội tốt để các doanh nghiệp tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng trong khu vực và toàn cầu.

Thứ tư, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng về các vấn đề môi trường, lao động và sở hữu trí tuệ; tăng cường giáo dục ý thức của doanh nghiệp về tầm quan trọng của việc chuyển sang sử dụng công nghệ sạch, đầu tư công nghệ xử lý môi trường và ý thức trong việc sử dụng đúng tiêu chuẩn các dư lượng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Ngoài các giải pháp mang tính vĩ mô kể trên, một số giải pháp cụ thể cũng cần triển khai đồng bộ như: (i) Đẩy nhanh việc xây dựng và tạo lập một nền nông nghiệp hữu cơ với các sản phẩm hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu tương thích với tiêu chuẩn của EU. (ii) Các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ và các doanh nghiệp chuyên kinh doanh hàng nông sản cần có kế hoạch cụ thể trong việc tư vấn cho người nông dân về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, chế biến bảo quản, đóng gói… các sản phẩm nông sản và ký các hợp đồng đảm bảo đầu ra cho người nông dân. (iii) Chính phủ cần hỗ trợ xây dựng nhà máy chiếu xạ tại miền Bắc đối với mặt hàng như quả vải xuất khẩu. (iv) Hỗ trợ về chi phí vận chuyển bằng máy bay để các doanh nghiệp có cơ hội xuất khẩu qua đường hàng không, thay vì chỉ xuất khẩu qua đường biển, giảm bớt thời gian và thu lại hiệu quả nhiều hơn cho các doanh nghiệp cũng như người nông dân.

TS. PHẠM SỸ CHUNG
Trường Đại học Mở TP. HCM
(TC DC&PL)