Một doanh nghiệp từng mang tên tuổi vùng mỏ Hạ Long, niêm yết trên sàn chứng khoán, lại dính líu đến hành vi thu gom nguyên liệu bệnh. Hành vi ấy không phải ngẫu nhiên. Nó là kết quả của một chuỗi quyết định có tính toán: mua rẻ nguyên liệu bất hợp pháp, bảo quản trong kho lạnh, chờ “phù phép” thành sản phẩm hợp quy để tung ra thị trường. Tổng giám đốc và một số nhân viên đã bị khởi tố. Nhà máy tạm dừng hoạt động. Nhưng câu hỏi lớn hơn vẫn còn nguyên: tại sao những vụ việc tương tự vẫn lặp lại qua bao năm tháng, từ melamine trong sữa, kháng sinh trong thịt, đến nay là thịt heo dịch bệnh trong đồ hộp?
Kinh tế thị trường đã mang lại sự phát triển mạnh mẽ cho đất nước. Nhưng mặt trái của nó - khi không được kiểm soát chặt chẽ - chính là sự tha hóa của một bộ phận doanh nghiệp trước sức hút lợi nhuận. Lợi ích nhóm hình thành, chiêu trò xuất hiện, cơ chế giám sát bị luồn lách. Nguyên liệu bẩn được “hợp thức hóa” bằng giấy tờ giả, chứng nhận “sạch” mua bán dễ dàng, kho lạnh trở thành nơi che giấu tội lỗi. Tất cả chỉ vì mục tiêu doanh thu và lợi nhuận cổ đông. Họ biết rằng sức khỏe của hàng triệu người tiêu dùng - trong đó có trẻ em, người già, những gia đình tin tưởng mua sản phẩm mang nhãn “Hạ Long” - đang bị đánh cược. Nhưng họ vẫn làm. Vì lợi nhuận lớn hơn nỗi sợ hãi lương tâm.
Pháp luật không thiếu. Chúng ta có Luật An toàn thực phẩm 2010 (sửa đổi, bổ sung 2018), có Nghị định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực này với mức phạt lên tới hàng tỷ đồng, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 về tội “Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm”. Thế nhưng, thực tiễn cho thấy chế tài vẫn chưa đủ sức răn đe. Doanh nghiệp vi phạm thường chỉ bị phạt hành chính, tạm dừng hoạt động ngắn hạn, rồi lại tái sinh dưới vỏ bọc mới. Hiện tượng “nhờn luật” tồn tại vì chi phí vi phạm còn thấp hơn lợi nhuận thu được, vì một bộ phận cán bộ quản lý thị trường, thú y, kiểm nghiệm còn chưa làm tròn trách nhiệm, thậm chí có trường hợp tiếp tay cho lợi ích nhóm.

Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.
Cần thay đổi từ gốc
Thứ nhất, Nhà nước phải nâng mức chế tài lên tầm cảnh báo thực sự: tịch thu toàn bộ tài sản bất chính, cấm vĩnh viễn kinh doanh thực phẩm đối với cá nhân và doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng, công khai danh tính trên cổng thông tin quốc gia. Trách nhiệm liên đới của người đứng đầu doanh nghiệp phải được thực thi nghiêm khắc - không chỉ tổng giám đốc mà cả hội đồng quản trị đều phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm có hệ thống.
Thứ hai, cần cơ chế giám sát độc lập, minh bạch và hiện đại. Xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử bắt buộc đối với mọi chuỗi cung ứng thực phẩm, từ trang trại đến bàn ăn. Ứng dụng công nghệ blockchain để không ai có thể “phù phép” giấy tờ. Tăng cường năng lực cho lực lượng quản lý thị trường và thanh tra chuyên ngành, đồng thời bảo vệ người thổi còi - những cán bộ, người dân dám tố giác hành vi vi phạm.
Thứ ba, cần giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Kinh tế thị trường không đồng nghĩa với “mạnh được yếu thua” trong đạo đức kinh doanh. Doanh nghiệp chân chính phải hiểu rằng lợi nhuận bền vững chỉ có được khi đặt sức khỏe người tiêu dùng lên trên hết. Nhà nước có thể khuyến khích bằng chính sách ưu đãi thuế, tín dụng cho những doanh nghiệp thực sự sạch.
Cuối cùng, người tiêu dùng cũng là một mắt xích quan trọng. Hãy chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, tẩy chay thương hiệu từng vi phạm, và lên tiếng khi phát hiện bất thường. Sức mạnh cộng đồng chính là lá chắn cuối cùng bảo vệ chính mình.
Vụ việc Đồ hộp Hạ Long không chỉ là nỗi đau của riêng Hải Phòng hay của những người từng tin dùng sản phẩm mang tên vịnh di sản. Đó là nỗi đau của cả dân tộc khi sức khỏe đồng bào bị đe dọa bởi lòng tham không đáy. Chúng ta không thể mãi chấp nhận sống trong nỗi lo thực phẩm bẩn. Đã đến lúc pháp luật phải thực sự nghiêm minh, quản trị nhà nước phải thực sự quyết liệt, và lương tâm doanh nghiệp phải thực sự tỉnh thức. Chỉ khi đó, bàn ăn của mỗi gia đình Việt Nam mới thực sự an toàn - và niềm tin vào kinh tế thị trường mới được giữ trọn.
LÊ HÙNG

