Thứ năm, 10/1/2019 | 07:19 GMT+7

Cần bổ sung quy định đảm bảo quyền gặp người bị buộc tội, bị tạm giam của người bào chữa

LSVNO - Quyền gặp mặt của người bào chữa bắt nguồn và liên quan trực tiếp từ quyền Hiến định của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, là cơ sở triển khai hoạt động của người bào chữa trong TTHS. Về bản chất, đây là quyền lợi của các chủ thể tham gia tố tụng và của người bào chữa, nhưng trong thực tiễn, đây là quyền lợi thường không được đảm bảo, nhất là trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

>>>Người bào chữa chưa thực hiện được quyền gặp người bị buộc tội, bị tạm giam

Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật TTHS 2015 đã thể chế hóa những nguyên tắc mới, tiến bộ trong việc bảo đảm, thực thi và tôn trọng quyền con người trong tố tụng hình sự, nâng cao vị trí, vai trò, làm rõ thêm quyền và nghĩa vụ của người bào chữa. Bộ luật TTHS 2015 đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 đến nay đã 01 năm nhưng liên ngành chưa có Thông tư hướng dẫn.

minhhoa-5c368f6b186f8

Ảnh minh họa.

Ngày  26/10/2018, Liên đoàn Luật sư Việt Nam (LĐLSVN) nhận được Công văn số 3014/V03-P2 của Bộ Công an đề nghị LĐLSVN tham gia ý kiến đối với Dự thảo Thông tư quy định về trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc bảo đảm thực hiện các quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 liên quan đến bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Sau khi nhận được văn bản nói trên, LĐLSVN đã gửi Dự thảo Thông tư và chỉ đạo các Đoàn luật sư địa phương triển khai lấy ý kiến rộng rãi từ các luật sư thành viên, đồng thời LĐLSVN cũng đã tổ chức 02 buổi tọa đàm tại Hà Nội dành cho các Đoàn Luật sư phía Bắc  tại TP. Hồ Chí Minh dành cho các Đoàn Luật sư phía Nam.  

Liên quan đến quy định tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật TTHS 2015, có 2 trình tự người bào chữa gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam như sau:

Thứ nhất, cuộc gặp, hỏi một cách chủ động giữa người bào chữa với người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam (điểm a khoản 1 Điều 73): Đây là cuộc gặp hoàn toàn do người bào chữa chủ động tiến hành, không hạn chế số lần, thời gian gặp trong giờ hành chính; được hỏi, trao đổi hoàn toàn riêng tư với người bị buộc tội trong điều kiện giám sát theo quy định của cơ sở giam giữ mà không bắt buộc phải có mặt điều tra viên. Ý nghĩa và bản chất của quy định này chính là ở chỗ tháo gỡ các rào cản nhằm hạn chế quyền của người bị buộc tội, hoặc nhận thức không đúng về việc trong giai đoạn điều tra, việc gặp của người bào chữa bắt buộc phải theo kế hoạch của cơ quan điều tra, điều tra viên.

Tuy nhiên, do nhà tạm giữ, trại tạm giam hiện nay trực thuộc Bộ Công an, Công an địa phương quản lý, nên nhằm thực thi Bộ luật TTHS 2015, cơ quan điều tra khi cấp thông báo đăng ký bào chữa, cần gửi 01 bản cho cơ sở giam giữ, bảo đảm khi người bào chữa có mặt tại cơ sở giam giữ để đăng ký gặp, làm việc với người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam thì được tạo điều kiện thuận lợi và cử người giám sát theo quy chế của cơ sở giam giữ. Để được gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, theo quy định tại Điều 80 Bộ luật TTHS 2015, người bào chữa chỉ cần xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ Luật sư, Thẻ Trợ giúp viên pháp lý, Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ Căn cước công dân.

Thứ hai, người bào chữa tham dự cuộc gặp do người có thẩm quyền lấy lời khai, hỏi cung chủ động tiến hành (điểm b và c khoản 1 Điều 73): Theo điểm b khoản 1 Điều 73 BLTTHS 2015, người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Ngoài ra, theo điểm c khoản 1 Điều 73 nói trên, người bào chữa còn có quyền có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác.

Đây là trình tự cuộc gặp thứ hai theo quy định của Bộ luật TTHS 2015, được tiến hành theo kế hoạch điều tra đã được cơ quan điều tra, điều tra viên chuẩn bị trước nhằm lấy lời khai, hỏi cung đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam với sự có mặt của người bào chữa. Trong cuộc gặp theo trình tự này, người bào chữa chỉ được hỏi khi điều tra viên đồng ý, nội dung hỏi và câu trả lời của người bị tạm giữ, người bị tạm giam phải được ghi vào trong biên bản, xác nhận đúng nội dung và người bào chữa ký vào biên bản. Quy định này có căn cứ vì người bào chữa đã chủ động có các buổi gặp, làm việc riêng với người bị buộc tội, nên trong buổi gặp do điều tra viên tiến hành, người bào chữa chỉ hỏi khi được điều tra viên đồng ý là phù hợp.

Theo đó, kiến nghị sửa  đổi Điều 12 Dự thảo Thông tư quy định về trách nhiệm trong việc tổ chức cho người bào chữa gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, theo hướng tách Điều 12 thành hai điều độc lập như sau(*):

Điều 12 (a). Các trường hợp người bào chữa gặp riêng người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam:

1. Người bào chữa được gặp riêng người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam tại cơ sở giam giữ, cơ sở khám chữa bệnh do lực lượng Công an nhân dân quản lý theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 73 Bộ luật TTHS 2015, trong các trường hợp sau đây:

a) Các vụ án không thuộc trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia được Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

b) Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có ý kiến hoặc văn bản cho rằng không có hành vi phạm tội, bị khởi tố không đúng tội danh hoặc hành vi, phản đối việc bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ trong quá trình tố tụng.

c) Các trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can thuộc các đối tượng quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 76 Bộ luật TTHS năm 2015.   

2. Khi có yêu cầu gặp riêng người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người bào chữa xuất trình Thông báo đăng ký bào chữa, Thẻ Luật sư, Thẻ Trợ giúp viên pháp lý, Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ Căn cước công dân kèm theo văn bản đề nghị gặp riêng người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

3. Việc tổ chức cho người bào chữa gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được thực hiện theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ban hành ngày 23/01/2018 quy định về quan hệ phối hợp giữa cơ sở giam giữ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Trước khi tổ chức buổi gặp mặt, trưởng cơ sở giam giữ phổ biến nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ cho người bào chữa biết để thực hiện. Trường hợp phát hiện người bào chữa vi phạm quy định về việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp và lập biên bản, báo cáo người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Trong quá trình người bào chữa gặp riêng người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, cơ sở giam giữ tạo điều kiện để cuộc gặp gỡ được thuận lợi, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn cho người bào chữa, không bị hạn chế thời gian trong giờ hành chính hay can thiệp vào nội dung trao đổi giữa hai bên.

Điều 12 (b).  Bảo đảm hoạt động lấy lời khai, hỏi cung do cơ quan điều tra, điều tra viên tiến hành có sự tham gia của người bào chữa:

1. Khi lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, hỏi cung bị can, Điều tra viên, người bào chữa phải thực hiện theo quy định của điểm a Khoản 1 Điều 73 Bộ luật TTHS năm 2015, Nội quy Nhà tạm giữ, Trại tạm giam và các quy định pháp luật tố tụng có liên quan khác. Nếu phát hiện điều tra viên hoặc người bào chữa có hành vi vi phạm thì người phát hiện vi phạm có quyền yêu cầu dừng ngay việc lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, hỏi cung bị can và yêu cầu người phụ trách cơ sở giam giữ lập biên bản về hành vi vi phạm và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý.

2. Trong quá trình lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, hỏi cung bị can, người bào chữa chuẩn bị trước các câu hỏi, trao đổi với điều tra viên, nếu được sự đồng ý thì người bào chữa được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can; nội dung câu hỏi của người bào chữa, câu trả lời của người bị tạm giữ, bị can phải được ghi vào trong biên bản lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, biên bản hỏi cung bị can. Trường hợp điều tra viên từ chối, hoặc không đồng ý để người bào chữa hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can thì việc từ chối hoặc không đồng ý cũng phải ghi vào biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung và nêu rõ lý do bị từ chối.                 

3. Khi kết thúc việc lấy lời khai, hỏi cung, điều tra viên phải đưa cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và người bào chữa đọc lại biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, sau khi xác nhận đúng nội dung câu hỏi, trả lời thì người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và người bào chữa ký tên vào biên bản. Nếu người bị lấy lời khai, bị hỏi cung không thể tự đọc biên bản, thì điều tra viên đọc lại cho người đó nghe, khi đã xác nhận đúng câu hỏi, câu trả lời với sự chứng kiến của người bào chữa thì ký tên vào biên bản. Trường hợp biên bản ghi chưa đầy đủ, chính xác nội dung câu hỏi và trả lời, thì người bị lấy lời khai, bị hỏi cung, người bào chữa có quyền đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ghi ý kiến của mình vào biên bản trước khi ký vào biên bản.

Hy vọngBộ Công an sẽ xem xét, tiếp thu đầy đủ ý kiến góp ý và đề xuất của LĐLSVN trong quá trình sửa đổi, bổ sung Dự thảo Thông tư quy định về trách nhiệm của  lực lượng Công an nhân dân trong việc bảo đảm thực hiện các quy định của Bộ luật  TTHS năm 2015 liên quan đến bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

---

 (*) Trích Dự thảo bản tổng hợp ý góp ý và đề xuất của LĐLSVN về Dự thảo Thông tư của Bộ Công an.

 

LS Nguyễn Hồng Hà