Thứ hai, 17/12/2018 | 06:58 GMT+7

Vài suy nghĩ từ một quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

LSVNO - Các biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) trong tố tụng dân sự thường được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án nhằm bảo đảm khả năng thi hành án, ngăn chặn những hậu quả không thể khắc phục được, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên (Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

Với ý nghĩa đó, BPKCTT là một công cụ hữu ích thường được các bên yêu cầu tòa án áp dụng để bảo vệ quyền, lợi ích của mình. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này để bảo vệ quyền lợi của bên có yêu cầu dù tạm thời cũng vẫn có nguy cơ gây ra các thiệt hại với bên bị áp dụng như trong trường hợp vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2018/KTST về tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty giữa nguyên đơn là Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam - CTCP (Tổng công ty) và bị đơn là Công ty cổ phần Giống gia cầm Lương Mỹ.

Công ty cổ phần Giống gia cầm Lương Mỹ (Công ty Lương Mỹ) được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước theo quyết định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với tỷ lệ vốn của cổ đông sáng lập Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam - CTCP chiếm 51% vốn điều lệ. Ngày 28/7/2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra văn bản 5916/BNN-QLDN đồng ý cho Công ty Lương Mỹ được phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ theo quyết định của Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông của công ty. Theo đó, tỷ lệ vốn của Tổng công ty sau khi phát hành thêm cổ phiếu là 36%. Từ thời điểm đó, Công ty Lương Mỹ đã tiến hành nhiều kỳ họp Đại hội đồng cổ đông và CTCP đã luôn biểu quyết theo tỷ lệ vốn trên.

Ngày 22/01/2018, Tổng công ty khởi kiện tại Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Nội với các yêu cầu: xác định vốn điều lệ của Công ty Lương Mỹ là 25.001.800.000 đồng; xác định Tổng công ty nắm giữ 51% vốn điều lệ (là vốn điều lệ và tỷ lệ vốn góp trước thời điểm tăng vốn điều lệ); Điều lệ được Đại hội đồng cổ đông thường niên 2015 của Công ty Lương Mỹ thông qua là không phù hợp với quy định của pháp luật và thực tế.

Ngày 12/4/2018, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án áp dụng BPKCTT “cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định đối với bị đơn”. Theo đó, “yêu cầu Công ty Lương Mỹ tạm dừng triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông 2018 trong thời điểm này để chờ phán quyết cuối cùng có hiệu lực của Tòa án đối với vụ án sơ thẩm số 03/2018/KTST”. Theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ra Quyết định số 142/2018/QĐ-BPKCTT áp dụng BPKCTT buộc Công ty Lương Mỹ ngừng ngay việc tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông 2018 để chờ kết quả giải quyết của tòa án. Quyết định này được ban hành căn cứ vào quy định tại khoản 12 Điều 114, Điều 127 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015.

Ngày 16/4/2018 bị đơn có đơn khiếu nại quyết định áp dụng BPKCTT. Quyết định giải quyết khiếu nại số 1176/2018/QĐ-GQKN của Chánh án TAND thành phố Hà Nội ngày 10/5/2018 nêu rõ căn cứ không chấp nhận đơn khiếu nại và giữ nguyên quyết định áp dụng BPKCTT theo yêu cầu của nguyên đơn gồm:

  1. Biện pháp được áp dụng phù hợp với BPKCTT cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định được quy định tại Điều 127 BLTTDS 2015;
  2. Việc tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông khi đang có tranh chấp về tỷ lệ vốn góp giữa Công ty Lương Mỹ và Tổng công ty có thể ảnh hưởng đến tính minh bạch, hợp pháp của các nghị quyết được ban hành tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông dự kiến, gây thiệt hại đến lợi ích của các cổ đông.

Việc ban hành quyết định trên đặt ra các vấn đề sau:

Thứ nhất, việc áp dụng BPKCTT trên nhằm ngăn chặn các thiệt hại có thể xảy ra cho nguyên đơn nhưng lại gây ra các thiệt hại cho bị đơn.

Thứ hai, việc áp dụng biện pháp cấm hoặc buộc thực hiện hành vi trong tình huống này có khả năng gây thiệt hại nhưng bên yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm, do vậy, nếu có thiệt hại thực tế xảy ra cho bên bị áp dụng thì ai sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng?

Thứ ba, có nhiều sai sót trong việc ban hành các quyết định áp dụng BPKCTT và quyết định giải quyết khiếu nại liên quan đến việc áp dụng BPKCTT.

bpkc-5c16e608cd0ce

Ảnh minh họa.

Về vấn đề bảo vệ quyền lợi cho các bên tranh chấp

BPKCTT được sử dụng để bảo vệ tài sản, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án[1] nên có thể nói, mục đích chính của loại biện pháp này là bảo vệ quyền lợi cho các bên tranh chấp. Do việc áp dụng BPKCTT căn cứ chủ yếu vào đơn của người có yêu cầu (thường là nguyên đơn) nên quy định trên dẫn đến cách hiểu là khi áp dụng, thẩm phán sẽ căn cứ vào nhu cầu bảo vệ quyền lợi của bên có yêu cầu.

Trong vụ án này, TAND thành phố Hà Nội nhận định rằng việc buộc Công ty Lương Mỹ ngừng ngay việc tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông 2018 “để chờ kết quả giải quyết của tòa án là cần thiết để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án”[2] và việc tổ chức họp đó có thể ảnh hưởng đến tính minh bạch, hợp pháp của các nghị quyết được ban hành, gây thiệt hại đến lợi ích của các cổ đông[3]. Có thể thấy việc quyết định áp dụng BPKCTT và giải quyết khiếu nại về việc áp dụng BPKCTT nêu trên đều dựa trên nhu cầu bảo vệ quyền lợi của một bên đương sự.

Tuy nhiên, cần đặt lại vấn đề là BPKCTT được sử dụng để bảo vệ chủ thể nào?

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 8 BLTTDS 2015, theo đó “Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”. Do vậy, chúng tôi cho rằng, để bảo đảm nguyên tắc trên trong toàn bộ quá trình tố tụng dân sự, việc áp dụng BPKCTT của tòa án cũng phải bảo đảm sự bình đẳng của các bên đương sự về quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.

Trong vụ án này, tòa án đã dựa trên những nhận định về nhu cầu bảo vệ quyền lợi của bên có yêu cầu và không tính đến nhu cầu bảo vệ quyền lợi của bên bị áp dụng BPKCTT.

Theo kế hoạch, Ban kiểm soát Công ty Lương Mỹ tiến hành các thủ tục họp Đại hội cổ đông để thông qua những nghị quyết với các nội dung: thông qua báo cáo tài chính năm 2016, 2017; thông qua báo cáo của Ban kiểm soát về kết quả kinh doanh của Công ty, Tổng giám đốc; thông qua báo cáo của Hội đồng quản trị về quản trị, kết quả hoạt động của Hội đồng quản trị và từng thành viên năm 2016, 2017 và phương hướng hoạt động năm 2018; bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát[4]. Vai trò của nguyên đơn với tỷ lệ vốn góp hiện tại (36%) và vai trò với tỷ lệ vốn góp đang yêu cầu thừa nhận (51%) là hoàn toàn khác biệt, thậm chí trong trường hợp được xác định là 51%, nguyên đơn có vai trò quyết định hoàn toàn đối với các quyết định quan trọng của Đại hội đồng cổ đông.

Vì lẽ đó, việc thông qua các nghị quyết của đại hội đồng cổ đông khi tòa án chưa giải quyết xong vụ án rõ ràng có khả năng ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích của nguyên đơn. Nếu nguyên đơn sau đó được xác định là có tỷ lệ vốn góp 51% thì rõ ràng nguyên đơn đã bị mất quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty với tư cách là cổ đông có quyền chi phối. Đây là một thiệt hại giả định trong trường hợp yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

Về phía bị đơn, khi bị yêu cầu ngừng ngay việc tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông 2018, bị đơn đã chịu nhiều thiệt hại thực tế. Cụ thể:

(i) Không thông qua được báo cáo hoạt động các mặt của Công ty năm 2016, 2017 và phương hướng hoạt động năm 2018, từ đó không thể triển khai các phương án kinh doanh.

(ii) Không kiện toàn được bộ máy nhân sự để bảo đảm khả năng vận hành Công ty. Số lượng thành viên Hội đồng quản trị chính thức của Công ty hiện tại là 03 so với số thành viên Hội đồng quản trị được xác định trong điều lệ là 05 thành viên. Theo khoản 3 Điều 136 Luật Doanh nghiệp 2014, trong trường hợp số thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát còn lại ít hơn số thành viên theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp phải tổ chức đại hội đồng cổ đông để kiện toàn tổ chức. Theo đơn khiếu nại của Công ty Lương Mỹ, tại thời điểm dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông, Ban kiểm soát của Công ty chỉ còn lại 01 thành viên (theo quy định của Luật Doanh nghiệp là từ 3-5 thành viên). Như vậy, Quyết định áp dụng BPKCTT của Tòa án cũng đã ngăn cản doanh nghiệp thực thi nghĩa vụ tổ chức họp đại hội đồng cổ đông để bầu bổ sung số lượng thành viên hội đồng quản trị và bầu bổ sung số lượng thành viên ban kiểm soát mà pháp luật đã quy định, dẫn đến cơ cấu tổ chức quản lý không đủ số lượng thành viên tối thiểu, ảnh hưởng đến khả năng điều hành và ra quyết định, hạn chế chức năng kiểm soát chủ yếu và thường xuyên của các cổ đông đối với hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp.

(iii) Các chi phí thực tế để chuẩn bị cho Đại hội đồng cổ đông của cả Công ty và các cổ đông (vé máy bay, chi phí thuê tổ chức sự kiện, chi phí lao động chuẩn bị cho các hoạt động của Đại hội…).

Đồng thời, với việc bị ngừng việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông 2018 cho đến khi có kết quả giải quyết của Tòa án, các thiệt hại này sẽ tiếp tục tăng lên theo thời gian.

Có thể thấy, bằng việc áp dụng BPKCTT, Tòa án đã triệt tiêu khả năng quyền và lợi ích của nguyên đơn bị thiệt hại do việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông gây ra nhưng đồng thời lại gây ra một thiệt hại rõ ràng và hiện hữu cho bị đơn, người lao động trong Công ty Lương Mỹ và các cổ đông khác khi bị hạn chế thực hiện quyền tự do kinh doanh.     

Việc không quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn trong quá trình bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn như trên đã không bảo đảm nguyên tắc về quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự của giữa các đương sự. Khoản 2 Điều 8 BLTTDS 2015 quy định “Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”. Xét trong trường hợp áp dụng BPKCTT, quy định trên có thể được hiểu là khi quyết định áp dụng BPKCTT, tòa án phải cân nhắc quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự mà không chỉ là riêng bên cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do áp dụng BPKCTT không đúng

Để hạn chế các yêu cầu không chính đáng và bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại xảy ra do áp dụng BPKCTT không đúng, Điều 136 BLTTDS 2015 quy định người yêu cầu nộp cho tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do tòa án ấn định khi yêu cầu áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên, việc thực hiện biện pháp bảo đảm này chỉ được áp dụng với một số BPKCTT nhất định mà không bao gồm biện pháp cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định được quy định tại Điều 127 BLTTDS 2015. Có thể nhận định rằng, quy định trên xuất phát từ quan điểm việc cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định không gây ra các thiệt hại về mặt tài sản, do đó không cần áp dụng biện pháp bảo đảm.

Trong vụ án này, mặc dù BPKCTT được áp dụng là cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định nhưng cũng tạo ra những thiệt hại thực tế cho bị đơn và bên thứ ba (người lao động, cổ đông…). Cụ thể, nếu yêu cầu của nguyên đơn bị từ chối, tòa án xác định nguyên đơn có tỷ lệ góp vốn là 36% chứ không phải 51% thì việc áp dụng BPKCTT trước đó được coi là không đúng; khi đó, các thiệt hại do bị áp dụng BPKCTT không đúng của bị đơn phải được bồi thường. Chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng hoặc tòa án theo các trường hợp được quy định tại Điều 113 BLTTDS 2015.

Trường hợp người yêu cầu áp dụng có thực hiện biện pháp bảo đảm theo Điều 136 thì nghĩa vụ bồi thường đã được bảo đảm bởi khoản tiền, kim khí quý, đá quý được nộp vào tài khoản của tổ chức tín dụng hoặc được bảo đảm bởi hợp đồng bảo lãnh. Tuy nhiên, do biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng với các biện pháp quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 BLTTDS 2015 nên khi áp dụng BPKCTT tại khoản 12 BLTTDS 2015, các thiệt hại xảy ra sẽ không có tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, từ đó dẫn đến thiệt hại quyền và lợi ích của bên bị áp dụng BPKCTT.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, khi phân tích quyết định áp dụng BPKCTT, có thể khẳng định Tòa án đã áp dụng BPKCTT khác với BPKCTT được yêu cầu, bởi nguyên đơn yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT “Yêu cầu Công ty Lương Mỹ tạm dừng triệu họp Đại hội đồng cổ đông 2018 để chờ kết quả giải quyết của Tòa án” nhưng quyết định áp dụng BPKCTT của Tòa án lại là “Buộc Công ty Lương Mỹ ngừng ngay việc tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông 2018 để chờ kết quả giải quyết của Tòa án”. Do đó, khi xảy ra thiệt hại do áp dụng BPKCTT không đúng, Tòa án phải bồi thường theo điểm b khoản 2 Điều 113 BLTTDS 2015.

Vấn đề đặt ra là trong quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định áp dụng BPKCTT, Chánh án Tòa án khi giải quyết khiếu nại vẫn xác định việc áp dụng BPKCTT trên là căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn nên chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra do áp dụng BPKCTT không đúng vẫn chưa được xác định rõ.

Như vậy, các quy định về biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT hiện vẫn còn những bất cập cần tiếp tục nghiên cứu khắc phục.

Kiến nghị

Mục đích của BPKCTT là bảo vệ quyền lợi của bên có yêu cầu. Tuy nhiên, đứng trên bình diện toàn xã hội, BPKCTT cũng có vai trò bảo vệ các nguồn lực xã hội. Theo cách nhìn này, việc áp dụng BPKCTT phải đem lại hiệu quả chung cho xã hội, nếu việc áp dụng để bảo vệ quyền lợi của một bên nhưng lại có khả năng gây ra những thiệt hại lớn hơn cho bên bị áp dụng hoặc các chủ thể khác thì sẽ không bảo đảm được vai trò này. Phương án giải quyết là phải cân nhắc giữa những gì mà BPKCTT bảo vệ - quyền lợi bị thiệt hại do không áp dụng BPKCTT với những gì mà BPKCTT có thể có tác động tiêu cực - quyền lợi bị thiệt hại do áp dụng BPKCTT.

Trên thực tế, các thiệt hại này chưa xảy ra tại thời điểm xem xét yêu cầu nên việc xác định chúng sẽ có sai số rất lớn, do vậy, việc áp dụng BPKCTT chỉ hợp lý khi thiệt hại có thể xảy ra nếu không áp dụng BPKCTT lớn hơn rõ ràng so với thiệt hại có khả năng xảy ra đối với bên bị áp dụng hoặc bên thứ ba.

Khả năng xảy ra thiệt hại đối với nguyên đơn trong trường hợp này là không cao bởi nghị quyết được ban hành bởi đại hội đồng cổ đông dù với vai trò của nguyên đơn là cổ đông chi phối hay không thì cũng đều có mục đích cao nhất là bảo vệ quyền lợi của công ty và các cổ đông trong đó có nguyên đơn. Ngược lại, các thiệt hại của bị đơn đã xảy ra và có thể tính toán được.

Trở lại vụ việc trên, để bảo đảm bình đẳng giữa các bên trong tranh chấp, khi quyết định áp dụng BPKCTT, Tòa án cần cân nhắc giữa quyền, lợi ích được bảo vệ của nguyên đơn và quyền, lợi ích bị ảnh hưởng của bị đơn. Trong trường hợp này, Tòa án có thể cho phép Đại hội đồng cổ đông được tổ chức nhưng hạn chế một hoặc một số nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông liên quan đến việc sử dụng vốn, tài sản của công ty, từ đó vừa bảo đảm quyền lợi của nguyên đơn, vừa bảo đảm quyền tự do kinh doanh của bị đơn, bảo vệ lợi ích của người lao động trong công ty.

Về mặt lập pháp, cần tiếp tục nghiên cứu để xây dựng các nguyên tắc hay điều kiện áp dụng BPKCTT để bảo đảm quy định tại Điều 8 BLTTDS 2015. Theo đó, một trong những điều kiện để áp dụng BPKCTT là các thiệt hại cần được bảo vệ phải rõ ràng là lớn hơn các thiệt hại có thể xảy ra nếu áp dụng BPKCTT. Chỉ khi đó việc áp dụng BPKCTT mới bảo đảm được nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự.

Quy định về biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng BPKCTT cũng cần được sửa đổi, bổ sung như sau: “Người yêu cầu tòa án áp dụng một trong các BPKCTT quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 12, 15 và 16 Điều 114 của Bộ luật này phải nộp cho tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do tòa án ấn định …”.

Đồng thời, cần có một án lệ liên quan đến việc áp dụng BPKCTT để có sự thống nhất về mặt nhận thức đối với việc áp dụng BPKCTT cũng như tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng trong giải quyết các tranh chấp thương mại nói riêng, tranh chấp dân sự nói chung để bảo đảm quyền, lợi ích của các bên tranh chấp.

Ths. LS Phan Đức Tiến

 

[1] Điều 111 BLTTDS 2015.

[2] Quyết định áp dụng BPKCTT số 142/2018/QĐ-BPKCTT ngày 12/4/2018 của TAND thành phố Hà Nội.

[3] Quyết định số 1176/2018/QĐ-GQKN ngày 10/5/2018 của Chánh án TAND thành phố Hà Nội.

[4] Quyết định số 1176/2018/QĐ-GQKN ngày 10 tháng 5 năm 2018 của Chánh án TAND thành phố Hà Nội.