Hành vi chống phá Nhà nước của Lê Trung Khoa và Nguyễn Văn Đài
Ngày 08/11/2025, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Căn cứ kết quả điều tra, ngày 17/11/2025, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Trung Khoa về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.
Đến ngày 11/11/2025, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an tiếp tục khởi tố vụ án “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Căn cứ kết quả điều tra, ngày 18/11/2025, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn Đài về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.
Bị can Lê Trung Khoa, sinh năm 1971 tại tỉnh Thanh Hóa, quốc tịch Việt Nam, có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh sang Cộng hòa Liên bang Đức tại số 01, ngõ 81 đường Láng, phường Đống Đa, thành phố Hà Nội. Từ năm 1971 đến năm 1988 ở với gia đình, học hết cấp III tại trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ (nay là trường Phổ thông Trung học Quang Trung, Đống Đa) thành phố Hà Nội. Từ năm 1988 là sinh viên của trường Đại học Mỹ Thuật công nghiệp, đến năm 1994 bị cho thôi học. Từ tháng 01/2016, Lê Trung Khoa xuất cảnh sang Cộng hòa liên bang Đức.
Tại Đức, Lê Trung Khoa đã sử dụng trang thoibao.de (do Lê Trung Khoa thành lập và làm Tổng biên tập, có trụ sở tại Berlin, Cộng hòa Liên bang Đức) để đăng tải nhiều bài viết có nội dung công kích lãnh đạo Đảng, Nhà nước; trả lời phỏng vấn BBC, VOA, RFA,... tổ chức thảo luận bàn tròn, hội luận trực tuyến để xuyên tạc tình hình “tự do báo chí, tự do ngôn luận” ở Việt Nam; lợi dụng danh nghĩa chống Trung Quốc để biểu tình chống Việt Nam tại Berlin;... Ngoài ra, Lê Trung Khoa có quan hệ với số đối tượng phản động như Vũ Quốc Phương (đài BBC), Vũ Quốc Dụng - cầm đầu “mạng lưới những người bảo vệ nhân quyền - VETO” tại Đức...
Thời gian gần đây, Lê Trung Khoa sử dụng các kênh truyền thông, trang mạng xã hội để đăng tải hàng nghìn bài viết, video xuyên tạc tình hình chính trị, dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam; đặc biệt là rất nhiều bài viết có nội dung bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc tình hình nội bộ của Việt Nam gây hoang mang dự luận trong quần chúng nhân dân. Móc nối, câu kết với nhiều đối tượng phản động khác như: Vũ Quốc Phương, Vũ Quốc Dụng, Nguyễn Văn Đài... công khai tiến hành các hoạt động chống Việt Nam.
Có thể thấy, bản thân Lê Trung Khoa có xuất thân hoàn toàn từ Việt Nam, định cư lâu năm tại nước ngoài, thiếu thông tin về tình hình chính trị, xã hội trong nước. Việc sử dụng danh nghĩa “nhà báo” để điều hành trang “thoibao.de” thực chất là hành vi lập “điểm đen tuyên truyền”, phát tán thông tin bịa đặt, thổi phồng, giật gân, tấn công trực diện vào sự ổn định chính trị và uy tín Nhà nước Việt Nam, vì lợi ích kinh tế, động cơ vụ lợi. Bản chất của hành vi ấy không phải làm báo, mà là thực hiện truyền thông thù địch.
Trước các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của Lê Trung Khoa, ngày 17/11/2025, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Trung Khoa về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bô luật Hình sự năm 2015.

Bị can Nguyễn Văn Đài và bị can Lê Trung Khoa. Ảnh: TTXVN.
Nguyễn Văn Đài, sinh năm 1969 tại Hưng Yên, quốc tịch Việt Nam, có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh sang Đức tại P302, Z8 Khu tập thể Bách Khoa, phường Bạch Mai, thành phố Hà Nội. Nguyễn Văn Đài từng đi xuất khẩu lao động tại Đức, sau đó về nước học tại trường Đại học Luật Hà Nội và hành nghề luật sư. Năm 2006, Nguyễn Văn Đài tham gia tổ chức khủng bố “Việt tân” và thực hiện kế hoạch câu móc các hệ phái Tin lành ở Việt Nam; đồng thời, trở thành một “khâu trung gian” giữa các tổ chức phản động lưu vong và các đối tượng chống đối ở trong nước. Với vỏ bọc “tín đồ đạo Tin lành”, Nguyễn Văn Đài đã thường xuyên ra nước ngoài tham gia các buổi điều trần nhằm xuyên tạc, vu cáo Việt Nam về “dân chủ”, “nhân quyền”. Cũng trong thời gian này, Nguyễn Văn Đài đã soản thảo nhiều tài liệu tuyên truyền, chống phá Việt Nam như: “Quyền tự do thành lập đảng”, “Dân trí và dân chủ”, “Xã hội dân sự ở Việt Nam”; đồng thời xây dựng mối quan hệ khăng khít với nhiều tổ chức phản động, như: Việt Tân; Họp mặt Dân chủ; Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam; khối 8406; đảng Dân chủ Việt Nam; ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam...
Ngày 03/3/2007, Nguyễn Văn Đài bị bắt và sau đó bị kết án 4 năm tù và 4 năm quản chế về tội “Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Sau khi được ra tù vào ngày 05/3/2011, Nguyễn Văn Đài đã khởi xướng thành lập “Hội Anh em Dân chủ” (HAEDC) để nối tiếp các phương thức hoạt động chống phá trước đó.
Ngày 05/4/2018, Nguyễn Văn Đài cùng các đối tượng thành viên cốt cán của HAEDC là Phạm Văn Trội; Nguyễn Trung Tôn; Nguyễn Bắc Truyền cùng các đối tượng Trương Minh Đức; Lê Thu Hà đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử về hành vi “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo quy định tại Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 1999. Trong đó, Nguyễn Văn Đài lĩnh án cao nhất là 15 năm tù và bị phạt quản chế 5 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt.
Với chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước ta, ngày 07/6/2018, Nguyễn Văn Đài được tạm đình chỉ thi hành án hình sự để cùng vợ xuất cảnh định cư tại Đức vì lý do chữa bệnh. Trước khi xuất cảnh, Nguyễn Văn Đài đã viết bản cam đoan có nội dung: “Khi được sang CHLB Đức, tôi sẽ không hoạt động chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
Tuy nhiên, thời gian sinh sống tại Đức, cho rằng các cơ quan chức năng Việt Nam không thể điều tra, xử lý, Nguyễn Văn Đài đã “ngựa quen đường cũ”, tiếp tục thể hiện thái độ thù địch, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tuyên truyền, kích động nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam; tiếp tục thực hiện nhiều hoạt động chống Đảng, Nhà nước thông qua các tài khoản mạng xã hội, như: Facebook “Nguyễn Văn Đài”, kênh Youtube “Luật sư Nguyễn Văn Đài” công khai ý đồ hoạt động chống phá Việt Nam, như: Phục hồi tổ chức phản động “Hội anh em dân chủ”, móc nối với các tổ chức phản động, khủng bố “Việt tân”, “Mạng lưới người bảo vệ nhân quyền”... công khai tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam; Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, kêu gọi, vận động nước ngoài can thiệp, gây sức ép đòi trả tự do cho số thành viên “Hội anh em dân chủ” đang chấp hành án phạt tù; Tham gia các diễn đàn, hội nhóm chống đối, phản động trên không gian mạng nhằm móc nối, tạo dựng lực lượng chống đối trong, ngoài nước. Tháng 9/2022, Nguyễn Văn Đài được bầu làm “ủy viên trung ương” của tổ chức khủng bố “Việt tân”; tháng 9/2025, Đài tiếp tục được bầu giữ vị trí “ủy viên trung ương” nhưng không công khai.
Từ đầu năm 2025 đến nay, Nguyễn Văn Đài đã tán phát hơn 3.500 bài viết, video có nội dung bịa đặt, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; lợi dụng các vấn đề chính trị, xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ngành của Chính phủ; xuyên tạc kết quả điều tra các vụ án, như: AIC, Việt Á, chuyến bay giải cứu...; xuyên tạc công tác nhân sự gây hoang mang dư luận, chia rẽ nội bộ. Đặc biệt hiện nay, Nguyễn Văn Đài còn sử dụng trí tuệ nhân tạo AI để sản xuất các video clip có tạo hình ảnh, nội dung xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Có thể thấy, dù từng được Nhà nước khoan hồng, nhiều lần xử lý nhân văn và tạo điều kiện để cải tạo, nhưng bản chất xấu xa của Nguyễn Văn Đài không thay đổi, cố tình tái phạm, tiếp tục chống phá với mức độ ngày càng nguy hiểm hơn. Trước các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của Nguyễn Văn Đài, ngày 18/11/2025, Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn Đài về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quyền tự do, dân chủ phải chịu những hạn chế do luật định
Trong bối cảnh toàn cầu hóa thông tin, tự do ngôn luận và tự do báo chí là những giá trị được mọi quốc gia tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, những quyền này không bao giờ là quyền tuyệt đối. Lịch sử lập pháp quốc tế cũng như thực tiễn pháp luật các nước phát triển đều khẳng định rằng không một quốc gia văn minh nào cho phép lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc sự thật, bôi nhọ lãnh tụ, kích động thù hằn, phá hoại trật tự xã hội hay chống lại Nhà nước.
Từ quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, cần nhận thức rõ bản chất của hành vi mà các đối tượng Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài thực hiện hoàn toàn không thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.
- Khoản 2 Điều 29 Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948 quy định rõ: “Khi thực hiện các quyền tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đổi với các quyền, tự do của người khác cũng như đáp ứng các yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung cho một xã hội dân chủ”. - Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của Liên hợp quốc năm 1966 quy định: “2. Mọi người có quyền tự do, ngôn luận...; 3. Việc thực hiện các quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội”. Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 quy định: “4... Việc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình đế chống lại quốc gia khác cũng được xem là vi phạm nghĩa vụ này”.
- Điều 15 Hiến pháp 2013 của Việt Nam quy định: “3. Việc thực hiện quyền của con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.
- Điều 25 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí... Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 13 Luật báo chí năm 2016 của Việt Nam quy định: “1. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí và phát huy đúng vai trò của mình; 2. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”.
- Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam: “7. Công dân Việt Nam... có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở Việt Nam theo quy định của Bộ luật này; 2. Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...”.
- Khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự của Việt Nam quy định về Tòa án xét xử vắng mặt trong các trường hợp: “b. Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa”.
Quyền này được quy định trong Điều 25 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam và Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là thành viên từ năm 1988. Nhưng chính Công ước ICCPR - chuẩn mực nhân quyền cao nhất thế giới - cũng khẳng định tại khoản 3 Điều 19 rằng quyền tự do biểu đạt phải bị giới hạn khi cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội, cũng như quyền và uy tín của người khác. Điều đó có nghĩa, mọi hành vi bịa đặt, bóp méo, vu khống lãnh đạo; mọi luận điệu kích động, cổ súy chống chính quyền; mọi hành động tổ chức, tiếp tay hoặc kêu gọi lực lượng bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam đều nằm ngoài phạm vi bảo hộ của quyền tự do ngôn luận và đương nhiên phải bị chế tài. Các đối tượng như Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài đã tán phát thông tin sai lệch, gây hoang mang dư luận và hạ thấp uy tín Nhà nước, đã vượt qua lằn ranh, giới hạn của tự do ngôn luận và tự do báo chí.
Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam cho thấy, tội phạm “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, chế độ xã hội, chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tội phạm này xâm phạm an ninh quốc gia, sự thống nhất về tư tưởng, niềm tin của nhân dân đối với chế độ, cũng như làm lung lay niềm tin của quần chúng nhân dân với chính quyền. Tất cả các nhu cầu chính đáng trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, trong đó có bảo đảm an ninh, trật tự, ổn định, hòa bình để phục vụ phát triển đất nước. Quy định này thiết lập ranh giới rõ ràng giữa hành vi (hành vi khách quan của tội phạm) thực hiện quyền tự do, dân chủ và hành vi vi phạm pháp luật bị coi là tội phạm (tuyên truyền thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bịa đặt, phỉ báng chính quyền,...) và không ngăn cản việc sử dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và các quyền con người khác.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn xác định việc bảo đảm và thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy và phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bên cạnh đó, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của tất cả các quốc gia trên thế giới để thực hiện ngày càng tốt hơn nữa các giá trị tự do ngôn luận, tự do báo chí cho mọi công dân. Tuy nhiên, các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận đều phải có giới hạn nhất định, phù hợp với văn hóa, thuần phong, mỹ tục và pháp luật Việt Nam, không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích của công dân Việt Nam. Việt Nam kiên quyết không cho phép bất kỳ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng quyền tự do để xâm phạm chủ quyền, phá hoại Nhà nước, xúc phạm lãnh đạo hoặc gây mất đoàn kết dân tộc. Tự do không bao giờ là cái cớ để phá hoại quốc gia, xúc phạm lãnh đạo hoặc gieo rắc sự thù hằn. Những kẻ lợi dụng tự do để làm điều sai trái sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đây là thông điệp kiên quyết của Nhà nước Việt Nam: bảo đảm quyền tự do, nhưng đồng thời bảo vệ nghiêm khắc trật tự, kỷ cương và chủ quyền quốc gia.
Thời gian qua, một số đối tượng như Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài đã cố tình vượt qua giới hạn pháp luật, sử dụng không gian mạng làm công cụ tán phát thông tin độc hại, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị và trật tự xã hội, gây bức xúc dư luận xã hội. Nhân dân cả trong và ngoài nước đã nhận thấy rõ bộ mặt thật của các đối tượng: không phải phản biện, không phải đóng góp xây dựng, mà là cố tình xuyên tạc, bịa đặt, gây nhiễu loạn thông tin, xúc phạm Nhà nước và kích động chống phá. Quần chúng vô cùng bức xúc trước việc các đối tượng lợi dụng không gian mạng để gieo rắc thù hằn, làm hoang mang dư luận và gây tổn hại đến uy tín quốc gia. Dư luận yêu cầu chính quyền phải có biện pháp mạnh tay, kiên quyết và nghiêm minh, xử lý đúng người đúng tội để bảo vệ sự thật, bảo vệ kỷ cương pháp luật và bảo vệ sự bình yên của nhân dân. Đây là mong muốn chính đáng, thể hiện tinh thần cảnh giác và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội.
Nhiều cựu cộng tác viên, những người từng nghe theo chúng, cũng đã tỉnh ngộ, mạnh dạn lên tiếng tố cáo, vạch trần thủ đoạn và âm mưu thật sự của các đối tượng. Ngay như bản thân đối tượng Đỗ Văn Ngà, đồng phạm với Lê Trung Khoa, quá trình làm việc với cơ quan chức năng cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, đã viết đơn tố cáo hành vi viết bài có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Lê Trung Khoa, mong muốn người dân nâng cao cảnh giác khi tiếp xúc với những bài viết có nội dung sai sự thật trên trang “Thoibao.de”.
Do đó, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt đối với Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài (các đối tượng đều có quốc tịch Việt Nam) là quyết định đúng đắn, đúng mong đợi của nhân dân; đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật Việt Nam; phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế và phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó là biểu hiện của một Nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, một quốc gia có chủ quyền, và một dân tộc không bao giờ chấp nhận bị xúc phạm, bị chia rẽ hay bị dẫn dắt bởi những luận điệu sai trái. Các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Việc điều tra dựa trên chứng cứ rõ ràng, khách quan và phù hợp với các quy định pháp lý trong nước và quốc tế. Không chỉ tại Việt Nam, mọi quốc gia trên thế giới không cho phép bất cứ một tổ chức, cá nhân nào lợi dụng các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Nếu cá nhân nào đó lợi dụng các quyền tự do, dân chủ của mình để phá hoại, gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến các quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì sẽ bị pháp luật nghiêm trị, bất kể người đó là ai. Đây là việc thực thi pháp luật và là công việc nội bộ của Việt Nam, bất kỳ sự can thiệp của quốc gia, tổ chức, cá nhân nào vào công tác điều tra, xử lý các đối tượng nêu trên đều không phù hợp với nguyên tắc, nội dung của luật pháp quốc tế.
Là công dân Việt Nam, sinh ra và lớn lên trên đất nước Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ, chăm lo và tạo mọi điều kiện để học hành, làm việc, trưởng thành; dù người thân, gia đình, họ hàng của các đối tượng vẫn đang cư trú trong nước và luôn được chính quyền các cấp quan tâm, bảo đảm an ninh, an sinh và quyền lợi hợp pháp như mọi công dân khác; nhưng các đối tượng lại chọn con đường phản bội. Họ quay lưng với quê hương, phủ nhận nhũng giá trị đã nuôi dưỡng mình, lợi dụng môi trường ở nước ngoài và không gian mạng để xuyên tạc, bịa đặt, công kích Nhà nước, xúc phạm lãnh đạo và gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt. Sự vô ơn ấy không chỉ phản ánh sự suy đồi về đạo đức cá nhân, mà còn là hành vi phản trắc đối với chính đất mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng họ trở thành con người. Việc lợi dụng cư trú ở địa bàn nước ngoài để vọng về những luận điệu chống phá Tổ quốc, phản bội đồng bào, trốn tránh trách nhiệm là việc làm bỉ ổi, hèn nhát của những kẻ vô lại. Trước những hành vi vi phạm pháp luật, các đối tượng sớm ăn năn, hối cải, quay trở về nước đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Từ quy định của pháp luật quốc tế, việc các quốc gia dung túng, bao che cho các cá nhân là công dân nước ngoài (Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài đều còn quốc tịch Việt Nam) lợi dụng các quyền tự do dân chủ, tự do báo chí, tự do ngôn luận để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm chủ quyền an ninh mạng của Việt Nam là không đảm bảo các quy định của pháp luật quốc tế, ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao với Việt Nam, thể hiện sự thiếu tôn trọng chủ quyền, thiếu thiện chí trong quan hệ quốc tế. Việt Nam kiên quyết bảo vệ quyền tài phán của mình và không chấp nhận bất kỳ hành vi can thiệp nào vào quá trình thực thi pháp luật.
- Nghị quyết của Liên hợp quốc về nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ” năm 1965 thể hiện: “Tuyên bố cấm can thiệp vào công việc nội bộ, bảo vệ độc lập và chủ quyền các quốc gia”.
- Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của luật quốc tế liên quan đến quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia nêu rõ: “Một quốc gia không được cho phép lãnh thổ của mình được sử dụng để tổ chức, hỗ trợ, tiến hành các hành động vũ trang hoặc hoạt động thù địch chống lại quốc gia khác”. Tập quán quốc tế và án lệ của Tòa án công lý quốc tế (ICJ) cũng khẳng định nguyên tắc không can thiệp và tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của mỗi quốc gia.
- Công ước Liên hợp quốc năm 2025 về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội) khẳng định chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và trách nhiệm hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm mạng.
- Điểm b khoản 2 Điều 15 Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm có tổ chức, trong đó Việt Nam và Đức đều tham gia ký kết, quy định: “Theo quy định tại Điều 4 Công ước này, một quốc gia thành viên sẽ thiết lập quyền tài phán của mình đối với bất kỳ hành vi phạm tội nào khi: b. Hành vi phạm tội được thực hiện bởi một công dân của quốc gia thành viên đó hay một người không quốc tịch thường trú trên lãnh thổ quốc gia đó”.
Các quốc gia có liên quan cần thực hiện trách nhiệm chung trong đấu tranh với các đối tượng lợi dụng không gian mạng để phá hoại hòa bình và ổn định của Việt Nam. Trong thời đại số, tội phạm mạng và hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước có tính chất xuyên biên giới, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế chặt chẽ. Việc xử lý các đối tượng không chỉ là trách nhiệm của Việt Nam mà còn là yêu cầu khách quan đối với những nước đang dung túng, chứa chấp đối tượng cư trú.
PV

