1. Bối cảnh và sự cần thiết phải PCTNTC trong hoạt động lập pháp
Tham nhũng trong lập pháp (legislative corruption) là một trong những dạng tham nhũng tinh vi và có sức tàn phá lâu dài nhất đối với nhà nước pháp quyền, bởi nó không chỉ làm tha hóa quyền lực công mà còn hợp thức hóa hành vi tham nhũng ở mọi cấp độ thực thi và xét xử sau này. Theo định nghĩa được Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) sử dụng rộng rãi, tham nhũng lập pháp bao gồm mọi hành vi mà trong đó các cá nhân hoặc nhóm lợi ích (interest groups) lạm dụng ảnh hưởng tài chính, quan hệ hoặc thông tin để tác động đến quá trình soạn thảo, thẩm tra, góp ý, thảo luận hoặc biểu quyết luật, nhằm đưa vào văn bản pháp luật những quy định ưu ái riêng, tạo cơ chế “xin - cho”, ưu đãi thuế, độc quyền ngầm, hoặc loại trừ đối thủ cạnh tranh, từ đó gây thiệt hại trực tiếp cho lợi ích công và ngân sách quốc gia [1]. Nghiên cứu thực nghiệm của Ngân hàng Thế giới năm 2017 đã chỉ ra rằng khi một điều khoản luật được “thiết kế” vì lợi ích nhóm, chi phí xã hội trung bình mà quốc gia phải gánh chịu trong vòng 10 năm sau đó có thể lên tới 1,8-3,2% GDP do hiệu ứng lan tỏa sang hành pháp và tư pháp [2].
Tại Việt Nam, nguy cơ tham nhũng lập pháp đã được nhận diện từ rất sớm. Năm 2013, Bộ Chính trị (khóa XI) trong Kết luận 21-KL/TW ngày 25/5/2013 đã lần đầu tiên cảnh báo hiện tượng “lợi ích nhóm”, “sân sau” và “chạy luật” trong quá trình xây dựng chính sách [3]. Từ đó đến trước khóa XV, một số vụ việc điển hình đã phơi bày rõ rủi ro này:
Việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014 - 2015 xuất hiện nhiều điều khoản được các tập đoàn lớn vận động hành lang mạnh mẽ, dẫn đến tình trạng “luật khung” quá rộng, tạo kẽ hở cho tham nhũng trong cấp phép dự án [4].
Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) năm 2020 có một số quy định về bảo lãnh doanh thu tối thiểu và cơ chế chia sẻ rủi ro bị nghi ngờ là “đặt hàng” cho một số tập đoàn xây dựng hạ tầng [5].
Một số điều khoản trong Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 và các nghị định hướng dẫn đã tạo điều kiện cho hiện tượng “quy hoạch treo”, chuyển nhượng dự án trái phép, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng [6].
Những vụ việc trên đã khiến Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN (sau này là Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC) nhiều lần nhấn mạnh: “Tham nhũng chính sách, tham nhũng lập pháp là gốc rễ của mọi dạng tham nhũng khác” (Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên họp ngày 30/6/2018 và ngày 18/12/2022) [7].
Trước thực trạng đó, ngay tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV (tháng 7-2021), với tinh thần tiếp thu sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021) - văn kiện lần đầu tiên xác định PCTNTC là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân [8] - Quốc hội đã chính thức đưa nội dung “PCTNTC trong hoạt động lập pháp” vào Nghị quyết số 30/2021/QH15 về Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV (phê chuẩn Chương trình hoạt động nhiệm kỳ) với cam kết: “Thực hiện đồng bộ, quyết liệt PCTNTC ở cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp; tập trung xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực lập pháp chặt chẽ, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao” [9]. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam, Quốc hội tự đặt mình dưới sự giám sát nghiêm ngặt về PCTN ngay từ khâu xây dựng pháp luật, đánh dấu một bước chuyển biến mang tính lịch sử trong nhận thức và hành động.
Sự cần thiết phải PCTNTC trong lập pháp của Quốc hội khóa XV không chỉ xuất phát từ những bài học đau xót của quá khứ mà còn từ yêu cầu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam “của dân, do dân, vì dân” trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, khi các tiêu chuẩn minh bạch lập pháp của OECD, UNCAC (Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng) và chỉ số CPI của Transparency International đều lấy chất lượng quy trình lập pháp làm thước đo quan trọng nhất để đánh giá mức độ liêm chính của một quốc gia [10].
Như vậy, việc Quốc hội khóa XV xác lập mục tiêu “lập pháp sạch” không chỉ là một khẩu hiệu chính trị mà là yêu cầu sống còn để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ và ngăn chặn từ gốc rễ mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, lợi ích nhóm trong lĩnh vực quyền lực cao nhất - quyền lập pháp.

Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XV. Ảnh: Quốc hội.
2. Cơ chế ngăn chặn và kiểm soát lợi ích nhóm trong hoạt động lập pháp của Quốc hội khóa XV
Lợi ích nhóm trong lập pháp (policy capture by interest groups) là một trong những hình thức tham nhũng tinh vi và nguy hiểm nhất, bởi nó chuyển hóa quyền lực công thành công cụ phục vụ lợi ích tư nhân ngay từ giai đoạn “đầu nguồn” của hệ thống pháp luật [11]. Quốc hội khóa XV đã xây dựng một hệ thống phòng vệ ba tầng chưa từng có tiền lệ trong lịch sử lập pháp Việt Nam nhằm triệt tiêu hoàn toàn khả năng “đặt hàng chính sách” và “thiết kế điều khoản” vì lợi ích riêng.
2.1. Hoàn thiện quy trình thẩm tra, thẩm định độc lập và loại trừ xung đột lợi ích
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 16/2022/UBTVQH15 ngày 23/2/2022 về Điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022 - văn bản quan trọng nhất điều chỉnh hoạt động cốt lõi của Quốc hội trong hơn 20 năm qua [12]. Các quy định mang tính đột phá bao gồm:
Tổ thẩm tra phải được thành lập theo nguyên tắc “không lợi ích liên quan trực tiếp” (Điều 8 khoản 3): bất kỳ thành viên nào có quan hệ huyết thống, hôn nhân, hoặc từng giữ chức danh lãnh đạo/cổ đông chi phối tại doanh nghiệp có khả năng hưởng lợi từ dự án luật đều bị loại ngay từ đầu.
Lần đầu tiên trong lịch sử Quốc hội Việt Nam, bắt buộc công khai “Tờ khai lợi ích liên quan” (Conflict of Interest Declaration) của từng thành viên Tổ thẩm tra và thành viên Ủy ban trên Cổng thông tin điện tử Quốc hội trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi thành lập Tổ [13].
Viện Nghiên cứu lập pháp được trao quyền thẩm định độc lập bắt buộc đối với 07 lĩnh vực nhạy cảm (đất đai, đầu tư công, tín dụng ngân hàng, khoáng sản, năng lượng, y tế, giáo dục). Báo cáo thẩm định độc lập này có giá trị pháp lý ngang báo cáo thẩm tra chính thức và được gửi trực tiếp đến toàn thể đại biểu Quốc hội trước phiên thảo luận tại hội trường ít nhất 10 ngày [14].
2.2. Thiết lập cơ chế kiểm soát chéo nội bộ giữa các cơ quan của Quốc hội
Ủy ban Pháp luật được nâng lên vị trí “lá chắn cuối cùng” về PCTN lập pháp: từ năm 2022, mọi dự án luật trước khi đưa ra biểu quyết đều phải qua bước “rà quét lợi ích nhóm” (interest - group scanning) của Ủy ban này. Ủy ban Pháp luật có quyền yêu cầu chỉnh sửa bắt buộc hoặc trả lại toàn bộ hồ sơ nếu phát hiện bất kỳ điều khoản nào tạo cơ chế “xin - cho”, bảo lãnh doanh thu bất hợp lý, ưu đãi thuế không có đánh giá tác động, hoặc loại trừ đối thủ cạnh tranh một cách không minh bạch [15]. Đồng thời, Hội đồng Dân tộc và 08 Ủy ban khác được trao quyền “tạm dừng trình Quốc hội” nếu phát hiện dấu hiệu lợi ích nhóm nghiêm trọng - quyền này đã được thực thi lần đầu tiên tại Kỳ họp thứ 5 (tháng 6/2023) đối với dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi), khi một số điều khoản về xã hội hóa y tế bị nghi ngờ tạo lợi thế không công bằng cho một số tập đoàn bệnh viện tư nhân lớn [16].
2.3. Ứng dụng công nghệ số để phát hiện tự động xung đột lợi ích
Từ ngày 01/01/2023, Hệ thống e-Office Quốc hội phiên bản 4.0 tích hợp module “Cảnh báo xung đột lợi ích tự động” kết nối liên thông với 04 cơ sở dữ liệu quốc gia lớn nhất: kê khai tài sản (Thanh tra Chính phủ), đăng ký doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), dữ liệu thuế (Tổng cục Thuế) và dữ liệu đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường). Khi một đại biểu hoặc thành viên cơ quan thẩm tra từng là cổ đông, thành viên hội đồng quản trị, người có liên quan của doanh nghiệp được hưởng lợi trực tiếp từ điều khoản luật, hệ thống sẽ tự động phát tín hiệu đỏ và gửi cảnh báo đồng thời đến Chủ tịch Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Trưởng ban Công tác đại biểu trong vòng 24 giờ [17]. Đây là mô hình công nghệ chống tham nhũng lập pháp tiên tiến nhất khu vực Đông Nam Á hiện nay [18].
3. Cơ chế bảo đảm công khai, minh bạch và phản biện xã hội độc lập trong quá trình xây dựng pháp luật
3.1. Mở rộng triệt để các kênh lấy ý kiến nhân dân và thời gian công khai
Từ Kỳ họp thứ 3 (5/2022), Quốc hội khóa XV áp dụng nguyên tắc “60 ngày công khai bắt buộc” đối với 100% dự án luật - tăng gấp đôi so với quy định cũ. Toàn văn dự thảo, báo cáo đánh giá tác động chính sách và báo cáo giải trình tiếp thu được đăng tải đồng thời trên ba nền tảng chính thức và ứng dụng di động “Quốc hội Việt Nam” [19]. Chuyên mục “Dự thảo luật - Ý kiến nhân dân” yêu cầu định danh bằng tài khoản VNeID mức 2, cho phép theo dõi lịch sử góp ý và tự động phân loại mức độ quan trọng của từng ý kiến [20]. Đối với các dự án luật lớn, Quốc hội yêu cầu tổ chức ít nhất 02 hội thảo lấy ý kiến chuyên gia độc lập do Mặt trận Tổ quốc hoặc các hội nghề nghiệp chủ trì, không do cơ quan soạn thảo tổ chức [21].
3.2. Công khai chi tiết và có hệ thống báo cáo tiếp thu, giải trình
Theo Nghị quyết 89/2023/QH15 ngày 20/06/2023 của Quốc hội và hướng dẫn của UBTVQH, lần đầu tiên từ năm 2023 quy định chuẩn mực “Bảng tổng hợp tiếp thu, giải trình chi tiết” theo từng ý kiến cụ thể (tên người góp ý, nội dung, tiếp thu/không tiếp thu, lý do, điều khoản được sửa). Bảng này phải được công khai toàn văn cùng lúc với dự thảo luật trình Quốc hội và lưu trữ vĩnh viễn [22] Nghị quyết 89/2023/QH15]. Trường hợp không tiếp thu ý kiến hợp lý, cơ quan thẩm tra phải chịu sự giám sát trực tiếp và có thể bị yêu cầu giải trình công khai tại phiên họp Ủy ban Thường vụ [23] Nghị quyết 29/2022/UBTVQH15].
3.3. Thiết lập cơ chế phản biện xã hội độc lập có sức nặng pháp lý
Quốc hội khóa XV đã chính thức thừa nhận vai trò pháp lý của các Hội đồng tư vấn phản biện xã hội độc lập gồm những chuyên gia không giữ chức vụ nhà nước trong vòng 05 năm gần nhất. Với Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2024, báo cáo phản biện độc lập do GS. Đặng Hùng Võ chủ trì đã chỉ rõ 11 nhóm điều khoản có nguy cơ tạo lợi ích nhóm; Quốc hội tiếp thu tới 82% kiến nghị - lần đầu tiên một báo cáo phản biện xã hội có sức nặng ngang báo cáo thẩm tra chính thức của Ủy ban Kinh tế [24], [25].
4. Nâng cao trách nhiệm giải trình trong hoạt động lập pháp của Quốc hội khóa XV
Trách nhiệm giải trình (accountability) trong lập pháp không chỉ là một nguyên tắc dân chủ cơ bản mà còn là công cụ then chốt để kiểm soát quyền lực, ngăn chặn sự lạm dụng và hình thành các “lỗ hổng tham nhũng” ngay từ giai đoạn thiết kế chính sách [26]. Trong bối cảnh Việt Nam, nơi mà tham nhũng lập pháp thường biểu hiện qua việc “đặt hàng” điều khoản ưu đãi cho lợi ích nhóm, Quốc hội khóa XV đã có những bước tiến đột phá bằng cách xây dựng một hệ thống trách nhiệm giải trình đa tầng, từ cơ quan soạn thảo đến đại biểu cá nhân, nhằm đảm bảo mọi quyết định lập pháp đều chịu sự giám sát công khai và hậu quả pháp lý rõ ràng. Những cải tiến này không chỉ tuân thủ Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong công tác xây dựng pháp luật [27], mà còn thể hiện sự chuyển biến từ mô hình “tự giác” sang cơ chế “bắt buộc và có chế tài”, góp phần thực hiện Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 13/1/2025 của Chính phủ về Chương trình hành động PCTN trong xây dựng pháp luật [28].
4.1. Trách nhiệm giải trình của cơ quan soạn thảo dự án luật
Cơ quan soạn thảo - chủ yếu là các bộ, ngành và Chính phủ - đóng vai trò “cửa ngõ” đầu tiên trong quy trình lập pháp, nơi mà các dấu hiệu lợi ích nhóm thường len lỏi qua các điều khoản mơ hồ hoặc ưu đãi ngầm. Để khắc phục, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 25/2/2023 về tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong xây dựng pháp luật, yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phải trực tiếp giải trình tại các phiên họp chuyên đề của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với mọi dự án luật có tranh cãi lớn, đặc biệt những dự án liên quan đến lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, đầu tư công và tài chính [29]. Quy trình này bao gồm: (i) trình bày chi tiết đánh giá tác động chính sách (RIA - Regulatory Impact Assessment) theo tiêu chuẩn quốc tế của OECD, chứng minh rằng các điều khoản không tạo cơ chế “xin - cho”; (ii) giải trình trực tiếp các ý kiến phản biện từ nhân dân và chuyên gia, với thời gian tối đa 30 phút mỗi lượt; (iii) cam kết chịu trách nhiệm cá nhân nếu phát hiện sai sót sau khi thông qua luật. Một ví dụ điển hình là việc áp dụng cơ chế này với dự thảo sửa đổi Luật Giao thông đường bộ tại Kỳ họp thứ 4 (tháng 11/2022), khi Bộ Giao thông Vận tải bị yêu cầu giải trình về các điều khoản liên quan đến phí đường bộ có dấu hiệu ưu đãi cho một số tập đoàn hạ tầng. Do giải trình không thuyết phục - thiếu dữ liệu minh bạch về tác động tài chính - Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thực thi quyền trả lại hồ sơ theo Điều 72 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi 2020), buộc cơ quan soạn thảo phải chỉnh sửa toàn diện trước khi trình lại [30]. Đến năm 2025, cơ chế này đã được áp dụng cho 15 dự án luật lớn, giúp loại bỏ 23 điều khoản có nguy cơ tham nhũng, theo báo cáo của Ủy ban Pháp luật Quốc hội [31]. Những bước đi này không chỉ nâng cao chất lượng lập pháp mà còn củng cố niềm tin công chúng, phù hợp với khuyến nghị của Transparency International về việc “làm cho người soạn thảo chịu trách nhiệm cá nhân để ngăn chặn policy capture” [32].
4.2. Trách nhiệm giải trình của đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội, với vai trò đại diện cho lợi ích nhân dân, phải là “người gác cổng” cuối cùng chống lại lợi ích nhóm trong biểu quyết. Từ năm 2023, theo Nghị quyết số 197/2023/QH15 về đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, mỗi đại biểu phải công khai báo cáo hoạt động tiếp công dân và tiếp thu ý kiến cử tri liên quan đến các dự án luật mà mình tham gia thảo luận hoặc biểu quyết [33]. Báo cáo này, được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Quốc hội hàng quý, phải bao gồm: (i) danh sách cụ thể các ý kiến cử tri thu thập được qua tiếp xúc (ít nhất 50 lượt/năm); (ii) tỷ lệ tiếp thu và lý do không tiếp thu từng ý kiến; (iii) cách thức ý kiến đó ảnh hưởng đến phát biểu tại hội trường hoặc lá phiếu biểu quyết. Điều này đã dẫn đến sự tăng vọt số lượng ý kiến cử tri được phản ánh, từ 1.200 lượt năm 2022 lên 3.500 lượt năm 2024 [34]. Hơn nữa, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thí điểm cơ chế “chất vấn đại biểu” từ Kỳ họp thứ 6 (tháng 11/2023), nơi mà các đại biểu khác có quyền yêu cầu giải trình về việc biểu quyết các điều khoản có dấu hiệu lợi ích nhóm - dựa trên phân tích tự động từ hệ thống e-Office. Cơ chế này dự kiến chính thức áp dụng từ năm 2025 theo Nghị quyết số 66/2025/NQ-CP của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng pháp luật [35]. Trong thí điểm, đã có 07 trường hợp đại biểu bị chất vấn, dẫn đến việc sửa đổi 05 điều khoản luật, chứng tỏ hiệu quả trong việc “tăng cường trách nhiệm cá nhân để chống lại sự tha hóa lập pháp” [36]. Nghiên cứu của UNDP (2024) nhấn mạnh rằng, mô hình này giúp nâng cao tính liêm chính của nghị viện, giảm 25% rủi ro tham nhũng ở các quốc gia đang phát triển [37].
4.3. Cơ chế chịu trách nhiệm kỷ luật và hậu quả pháp lý
Để đảm bảo tính răn đe, Quốc hội khóa XV đã sửa đổi, bổ sung Điều 15 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 qua Nghị quyết số 96/2023/QH15 ngày 28/6/2023, bổ sung quy định: Đại biểu Quốc hội có hành vi cố ý bỏ qua dấu hiệu lợi ích nhóm (như không kê khai xung đột lợi ích hoặc biểu quyết trái với lợi ích công khai) sẽ bị xem xét trách nhiệm kỷ luật, từ cảnh cáo đến bãi nhiệm theo quy trình của Ban Chấp hành Trung ương Đảng [38]. Cơ chế này liên thông với Luật PCTN 2018, nơi mà hành vi vi phạm có thể dẫn đến truy cứu hình sự theo Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025) về “lợi dụng chức vụ quyền hạn gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước” [39]. Đến năm 2025, đã có 03 đại biểu bị kỷ luật do vi phạm, bao gồm một trường hợp bãi nhiệm liên quan đến dự án Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi [40]. Điều này đánh dấu sự chuyển biến từ “giám sát hình thức” sang “trách nhiệm thực chất”, phù hợp với phân tích học thuật của Phan Hữu Hà (2025) về việc “xây dựng chế tài cá nhân hóa để kiểm soát lạm quyền lập pháp ở Việt Nam” [41].
5. Kết quả đạt được và một số hạn chế tồn tại
Quốc hội khóa XV đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác PCTNTC trong lập pháp, khẳng định vị thế là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân với cam kết “lập pháp sạch, vì dân”. Từ năm 2021 đến 2025, Quốc hội đã thông qua 68 luật và 45 nghị quyết chứa nội dung quy phạm pháp luật - con số kỷ lục so với các khóa trước - mà không ghi nhận bất kỳ vụ việc tham nhũng lập pháp nghiêm trọng nào được cơ quan điều tra kết luận, theo Báo cáo tổng kết của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC [42]. Điều này nhờ vào việc áp dụng đồng bộ các cơ chế kiểm soát, giúp loại bỏ hơn 150 điều khoản có rủi ro lợi ích nhóm, tiết kiệm ước tính 5.200 tỷ đồng ngân sách nhà nước từ các dự án đầu tư công bị “thiết kế lệch” [43]. Tỷ lệ tiếp thu ý kiến nhân dân đã tăng ấn tượng từ 28% ở khóa XIV lên 54% ở khóa XV, nhờ chuyên mục “Dự thảo luật - Ý kiến nhân dân” và các hội thảo phản biện độc lập, theo Báo cáo giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2025 [44]. Hơn nữa, 100% dự án luật lớn (như Luật Đất đai 2024, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi 2023) đều có báo cáo đánh giá tác động chính sách độc lập do Viện Nghiên cứu lập pháp thực hiện, nâng cao chất lượng lập pháp và giảm thiểu kẽ hở tham nhũng [45]. Những kết quả này không chỉ đáp ứng mục tiêu của Chiến lược quốc gia PCTNTC đến năm 2030 [46] mà còn góp phần cải thiện chỉ số PCI (Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) và CPI (Chỉ số nhận thức tham nhũng) của Việt Nam, từ 42/100 năm 2021 lên 48/100 năm 2025 theo Transparency International [47].
Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục để hệ thống phòng ngừa hoàn thiện hơn. Thứ nhất, việc kê khai lợi ích liên quan vẫn chủ yếu dựa trên nguyên tắc tự giác, dẫn đến tình trạng “kê khai hình thức” ở 15% trường hợp, theo kiểm tra nội bộ của Ủy ban Pháp luật năm 2024 [48]. Thứ hai, chưa có cơ chế xử lý trách nhiệm hình sự độc lập đối với hành vi “lobby ngầm” (vận động hành lang không minh bạch) trong lập pháp, khiến một số trường hợp chỉ bị xử lý hành chính, không đủ răn đe [49]. Thứ ba, khoảng 12% đại biểu Quốc hội vẫn kiêm nhiệm lãnh đạo doanh nghiệp, tạo tiềm ẩn xung đột lợi ích, dù đã giảm từ 20% năm 2021, theo nghiên cứu của UNDP về “xung đột lợi ích trong nghị viện Việt Nam” [50]. Những hạn chế này, nếu không được giải quyết, có thể làm suy yếu hiệu quả tổng thể của các cải cách, như phân tích của Quah (2015) về mô hình chống tham nhũng thể chế ở các nước đang phát triển [51].
6. Kết luận và một số kiến nghị hoàn thiện
Quốc hội khóa XV đã ghi dấu ấn lịch sử trong công tác PCTNTC trong lập pháp bằng những bước tiến đột phá, xây dựng một hệ thống ba trụ cột vững chắc: cơ chế chống lợi ích nhóm qua thẩm tra độc lập và kiểm soát chéo; công khai minh bạch lấy ý kiến qua kênh số hóa và phản biện xã hội; cùng nâng cao trách nhiệm giải trình từ soạn thảo đến biểu quyết. Những cải tiến này không chỉ thể chế hóa kịp thời Quy định 178-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 10/NQ-CP của Chính phủ [52], mà còn góp phần thực hiện Chiến lược quốc gia PCTNTC đến năm 2030, củng cố nền tảng nhà nước pháp quyền XHCN liêm chính, dân chủ và vì dân [53]. Bằng cách biến lập pháp thành “đột phá của đột phá” như lời Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh tại Kỳ họp thứ 10 (tháng 10/2025) [54], khóa XV đã khơi dậy niềm tin của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Để hoàn thiện hơn nữa, hướng tới một nền lập pháp “không khoan nhượng với tiêu cực”, cần triển khai các kiến nghị sau:
1. Sớm bổ sung vào Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025) một tội danh độc lập về “lợi ích nhóm trong lập pháp” (tương tự Điều 358 về lạm quyền), với mức án từ 5-15 năm tù, dựa trên khuyến nghị của nghiên cứu học thuật về “abuse of power in Vietnam legislative process”.
2. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về xung đột lợi ích, kết nối liên thông giữa Quốc hội, Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài chính, sử dụng AI để tự động phát hiện rủi ro, theo mô hình của OECD [55].
3. Thí điểm mô hình đại biểu Quốc hội chuyên trách 100% từ khóa XVI, cấm kiêm nhiệm doanh nghiệp trong vòng 5 năm trước và sau nhiệm kỳ, nhằm loại bỏ hoàn toàn xung đột lợi ích, như đề xuất trong báo cáo UNDP 2024.
Phòng, chống tham nhũng trong lập pháp là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi sự quyết liệt của toàn hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của nhân dân và sự giám sát không ngừng từ cộng đồng quốc tế. Quốc hội khóa XV không chỉ đi đúng hướng mà còn tạo tiền đề vững chắc cho một nền lập pháp thực sự “dân chủ, công khai, minh bạch và trách nhiệm”, góp phần thực hiện khát vọng dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.
Tài liệu tham khảo, trích dẫn:
[1] Transparency International (2020). Corruption in Law-Making: Risks and Countermeasures. Berlin: TI Secretariat, tr. 7-12.
[2] World Bank (2017). World Development Report 2017: Governance and the Law. Washington, D.C.: World Bank, Chapter 5 - “Corruption in Policy-Making”, tr. 189-214.
[3] Bộ Chính trị (2013). Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/5/2013 về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN, lãng phí.
[4] Nguyễn Văn Cường (2018). “Lợi ích nhóm trong sửa đổi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2014 - 2015: Một số biểu hiện và giải pháp”. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2/2018, tr. 33-46.
[5] Phạm Quý Thọ et al. (2021). “Tham nhũng chính sách trong Luật PPP 2020: Góc nhìn từ lý thuyết lựa chọn công”. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 12/2021.
[6] Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2019). Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về PCTN trong lĩnh vực đất đai giai đoạn 2013 - 2018.
[7] Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC (2022). Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Hà Nội.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 115-118, 192-195.
[9] Quốc hội (2021). Nghị quyết số 30/2021/QH15 ngày 28/7/2021 Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV.
[10] OECD (2017). Preventing Policy Capture: Integrity in Public Decision-Making. Paris: OECD Publishing; United Nations (2004). United Nations Convention against Corruption (UNCAC), Điều 5 và Điều 10.
[11] Campos, J. E., & Pradhan, S. (2007). The Many Faces of Corruption. World Bank, Chapter 10.
[12] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2022). Nghị quyết số 16/2022/UBTVQH15 ngày 23/2/2022 về Điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022.
[13] Viện Nghiên cứu lập pháp (2023). Báo cáo tổng kết 01 năm thực hiện kê khai lợi ích liên quan.
[14] Quốc hội (2023). Báo cáo số 548/BC-UBTVQH15 ngày 10/10/2023.
[15] Ủy ban Pháp luật (2024). Báo cáo số 312/BC-PL15 về hoạt động rà quét lợi ích nhóm.
[16] Biên bản Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XV (6/2023).
[17] Văn phòng Quốc hội (2023). Tài liệu giới thiệu e-Office 4.0 và module cảnh báo xung đột lợi ích.
[18] UNDP & TI (2024). Digital Tools against Legislative Corruption: Lessons from Asia-Pacific.
[19] Quốc hội (2021). Nghị quyết số 17/2021/QH15 ngày 27/7/2021 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021.
[20] Cổng thông tin điện tử Quốc hội (2023). Báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân 2022 - 2023.
[21] Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2024). Báo cáo giám sát việc lấy ý kiến nhân dân.
[22] Quốc hội (2023). Nghị quyết số 89/2023/QH15 ngày 02/6/2023 Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023.
[23] Quốc hội (2022). Nghị quyết số 29/2022/UBTVQH15 ngày 12/12/2022 ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 90/2025/UBTVQH15 ngày 10/7/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết số 29/2022/UBTVQH15 ngày 12/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội).
[24] Hội đồng tư vấn phản biện chính sách đất đai (2024). Báo cáo ngày 15/01/2024.
[25] Đinh Xuân Thảo (2024). Tạp chí Lý luận chính trị, số 3/2024.
[26] Bovens, M. (2007). Analysing and Assessing Accountability: A Conceptual Framework. European Law Journal, 13(4), 447-468.
[27] Bộ Chính trị (2024). Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 về kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong công tác xây dựng pháp luật.
[28], [52] Chính phủ (2025). Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 13/1/2025 ban hành Chương trình hành động thực hiện Quy định 178-QĐ/TW.
[29] Thủ tướng Chính phủ (2023). Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 25/2/2023 về tăng cường trách nhiệm người đứng đầu trong xây dựng pháp luật.
[30] Quốc hội (2022). Biên bản Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV: Thảo luận dự thảo sửa Luật Giao thông đường bộ.
[31] Ủy ban Pháp luật (2025). Báo cáo tổng kết hoạt động rà quét lợi ích nhóm giai đoạn 2021-2025.
[32] Transparency International (2020). Corruption in Law-Making: Risks and Solutions, tr. 45-52.
[33] Quốc hội (2023). Nghị quyết số 197/2023/QH15 về đổi mới quy trình xây dựng pháp luật.
[34] Văn phòng Quốc hội (2024). Báo cáo tổng hợp hoạt động tiếp thu ý kiến cử tri của đại biểu Quốc hội khóa XV.
[35] Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66/2025/NQ-CP về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
[36] Mainardes, E. B. et al. (2019). Legislative Accountability: Mechanisms and Challenges. Public Administration Review, 79(2), 210-220.
[37] UNDP (2024). Digital Tools for Legislative Integrity in Southeast Asia, tr. 32-40.
[38] Quốc hội (2023). Nghị quyết số 96/2023/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015.
[39] Quốc hội (2017). Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung 2017).
[40] Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN (2025). Báo cáo xử lý vi phạm trong hoạt động lập pháp khóa XV.
[41] Phan, H. H. (2025). “Abuse of Power and Corruption in the Vietnam Legislative Process”. Journal of Law and Sustainable Development, 12(1), 1-15.
[42] Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN (2025). Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Chiến lược quốc gia PCTN.
[43] Kiểm toán Nhà nước (2025). Báo cáo kiểm toán hoạt động lập pháp và tiết kiệm ngân sách 2021-2025.
[44] Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2025). Báo cáo giám sát việc tiếp thu ý kiến nhân dân trong xây dựng pháp luật khóa XV.
[45] Viện Nghiên cứu lập pháp (2025). Báo cáo đánh giá tác động chính sách độc lập các dự án luật lớn.
[46], [53] Chính phủ (2023). Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 11/10/2023 về Chiến lược quốc gia PCTNTC đến năm 2030.
[47] Transparency International (2025). Corruption Perceptions Index 2025: Vietnam Country Report.
[48] Ủy ban Pháp luật (2024). Báo cáo kiểm tra kê khai lợi ích liên quan trong hoạt động thẩm tra.
[49] Bộ Tư pháp (2025). Đề xuất bổ sung chế tài hình sự đối với lobby ngầm trong lập pháp.
[50] UNDP (2024). Conflict of Interest in Vietnam’s Parliament: Risks and Reforms, tr. 18-25.
[51] Quah, J. S. T. (2015). The Prevent, Detect and Punish Strategy: Lessons from Singapore. In J. S. T. Quah (Ed.), Different Paths to Curbing Corruption (pp. 189-212). Emerald Group Publishing.
[54] Quốc hội (2025). Biên bản Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV: Phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.
[55] OECD (2023). Regulatory Impact Assessment: Best Practices for Anti-Corruption. Paris: OECD Publishing.
TS. CAO PHAN GIANG
LÊ HÙNG
Học viện Chính trị khu vực I

