/ Thư viện pháp luật
/ Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thuế năm 2026

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thuế năm 2026

02/01/2026 18:42 |

(LSVN) - Ngày 01/01/2026 Chính phủ ban hành Nghị định 2/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí và lệ phí.

Trong đó, tại Điều 23 Nghị định 2/2026/NĐ-CP này có quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thuế. Trong đó, có nêu rõ, công chức Thuế đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân; đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Trưởng Thuế cơ sở có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 25.000.000 đồng đối với cá nhân; đến 50.000.000 đồng đối với tổ chức. Bên cạnh đó, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 2/2026/NĐ-CP này.

Điều 4. Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc nộp ngân sách nhà nước số tiền phí, lệ phí do vi phạm các quy định về phí và lệ phí, bao gồm tiền chậm nộp phí, lệ phí theo quy định của Luật Quản lý thuế;

b) Buộc hoàn trả tiền phí, lệ phí cho người nộp phí, lệ phí;

c) Buộc thực hiện một hoặc một số trách nhiệm của tổ chức thu phí, lệ phí theo quy định của Luật Phí và lệ phí, bao gồm: Niêm yết công khai tại địa điểm thu và công khai trên Trang thông tin điện tử của tổ chức thu phí, lệ phí về tên phí, lệ phí, mức thu, phương thức thu, đối tượng nộp, miễn, giảm và văn bản quy định thu phí, lệ phí; cấp chứng từ thu cho người nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật; định kỳ báo cáo quyết toán thu, nộp, sử dụng phí, lệ phí; thực hiện chế độ công khai tài chính theo quy định của pháp luật; hạch toán riêng từng loại phí, lệ phí; báo cáo tình hình thu, nộp, quản lý, sử dụng phí, lệ phí.

Còn Chi cục trưởng Chi cục Thuế doanh nghiệp lớn; Chi cục trưởng Chi cục Thuế thương mại điện tử; Trưởng Thuế tỉnh, thành phố có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 40.000.000 đồng đối với cá nhân; đến 80.000.000 đồng đối với tổ chức; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 2/2026/NĐ-CP.

Cục trưởng Cục Thuế có quyền: Phạt cảnh cáo; Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân; đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức; Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 2/2026/NĐ-CP.

Trước đó, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thuế được quy định tại Nghị định số 189/2025/NĐ-CP. Theo Điều 13 Nghị định 189/2025/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt hành chính của cơ quan thuế đối với hành vi khai sai dẫn đến thiểu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn; trốn thuế; vi phạm của ngân hàng thương mại trong việc không thực hiện trách nhiệm trích chuyển tiền từ tài khoản của người nộp thuế vào tài khoản của ngân sách nhà nước đối với số tiền thuế nợ phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế 2019 được sửa đổi, bổ sung 2024.

Đối với hành vi vi phạm hành chính khác, thẩm quyền xử phạt của cơ quan thuế được quy định như sau:

Công chức Thuế đang thi hành công vụ có quyền:

- Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này.

Trưởng Thuế cơ sở có quyền:

- Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;

- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả tại các điểm a, e, i và k khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Chi cục trưởng Chi cục Thuế; Trưởng Thuế tỉnh, thành phố có quyền:

-  Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền đến 80% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Cục trưởng Cục Thuế có quyền:

- Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực thuế quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của luật Xử lý vi phạm hành chính.

Ngoài ra, cũng theo Điều 5 Nghị định 2/2026/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền có nêu rõ, đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân thực hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực phí, lệ phí là 50.000.000 đồng và đối với tổ chức thực hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực phí, lệ phí là 100.000.000 đồng. Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư vi phạm hành chính bị áp dụng mức phạt tiền như đối với cá nhân vi phạm hành chính.

Mức phạt tiền quy định tại Điều 11, Điều 16, Điều 17 Nghị định 2/2026/NĐ-CP là mức phạt áp dụng đối với cá nhân.

Mức phạt tiền quy định tại Điều 9, Điều 10, từ Điều 12 đến Điều 15 Nghị định 2/2026/NĐ-CP là mức phạt áp dụng đối với tổ chức.

Khi phạt tiền đối với các hành vi vi phạm quy định về phí, lệ phí, mức phạt cụ thể đối với một hành vi không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là mức trung bình của khung tiền phạt quy định đối với hành vi đó. Mức trung bình của khung tiền phạt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu cộng mức tối đa.

Trường hợp có 01 tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt cụ thể được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu cộng mức trung bình của khung tiền phạt. Trường hợp có 01 tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt cụ thể được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức trung bình cộng mức tối đa của khung tiền phạt.

Trường hợp có từ hai tình tiết tăng nặng thì áp dụng mức tối đa của khung phạt tiền. Trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt.

Trường hợp vừa có tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ thì bù trừ theo nguyên tắc một tình tiết tăng nặng trừ cho một tình tiết giảm nhẹ.

Tổ chức, cá nhân thực hiện vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ các trường hợp sau: Thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 Điều 9, khoản 1 và khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 13, khoản 1 Điều 14, điểm b khoản 1 và khoản 2, 3, 4, 5 Điều 15, khoản 2 và khoản 3 Điều 16, khoản 2 Điều 17 Nghị định 2/2026/NĐ-CP ở các thời điểm khác nhau mà những hành vi vi phạm này chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý, được phát hiện và thể hiện trong cùng một lần lập Biên bản vi phạm hành chính thì chỉ bị xử phạt một lần về hành vi vi phạm, đồng thời áp dụng tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

QUÝ NGUYỄN

Các tin khác