Trước hết, về mặt khách quan, hành vi phạm tội ở đây không phải là việc thực hiện quyền tự do ngôn luận thông thường, mà là hành vi "lợi dụng". Điều này có nghĩa là cá nhân đã dùng các quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp để thực hiện những mục đích phi pháp. Trong các vụ việc cụ thể này, hành vi khách quan thường biểu hiện qua việc đăng tải, chia sẻ hoặc trực tiếp phát ngôn các thông tin có nội dung sai lệch, xuyên tạc tình hình thực tế, hoặc bôi nhọ, xúc phạm danh dự của các tổ chức và cá nhân lãnh đạo. Việc sử dụng mạng xã hội làm công cụ để lan truyền những nội dung không có căn cứ, gây hoang mang trong dư luận chính là hành vi xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính và sự ổn định của xã hội.
Tiếp theo, một yếu tố cực kỳ quan trọng là mặt khách quan, người thực hiện hành vi phải có lỗi cố ý, nghĩa là họ hoàn toàn nhận thức được rằng những thông tin mình đưa ra là không chính xác hoặc có khả năng gây tổn hại đến uy tín, danh dự của đối tượng bị nhắc đến, nhưng họ vẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc có thái độ bỏ mặc cho hậu quả xảy ra nhằm đạt được những mục đích cá nhân hoặc chính trị nhất định. Trong vụ án này, sự lặp đi lặp lại của các bài đăng, sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung mang tính kích động thường là minh chứng rõ nét cho ý chí chủ quan muốn chống phá hoặc hạ thấp uy tín của chính quyền.
Về phía khách thể, tội phạm này xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Khi niềm tin của người dân vào các thiết chế Nhà nước bị xói mòn bởi những thông tin bịa đặt, thì khách thể bị xâm hại ở đây chính là sự ổn định của hệ thống chính trị và trật tự an toàn xã hội. Cuối cùng, về mặt chủ thể, bất kỳ cá nhân nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định đều có thể bị truy cứu.

Ảnh minh họa. Nguồn: tuyengiao.vn
Trong vụ án của Lê Trung Khoa và Nguyễn Văn Đài, các cơ quan tố tụng sẽ dựa trên các chứng cứ kỹ thuật như kết luận giám định nội dung số, các vi bằng ghi nhận hoạt động trên không gian mạng và các tài liệu chứng minh tính sai sự thật của thông tin để đưa ra phán quyết. Nếu các chứng cứ cho thấy thông tin đưa ra không dựa trên sự thật khách quan mà chỉ là sự thêu dệt nhằm mục đích bôi nhọ, thì hành vi đó hoàn toàn hội đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận rõ ràng trong Hiến pháp Việt Nam và các công ước quốc tế. Tuy nhiên, ranh giới giữa việc thực hiện quyền tự do ngôn luận với việc vi phạm pháp luật đôi khi rất mong manh nếu người dân không có đủ kiến thức pháp lý và ý thức trách nhiệm. Điều đầu tiên và quan trọng nhất mà mọi người cần lưu ý khi tham gia vào đời sống xã hội cũng như không gian mạng là phải hiểu rõ nguyên tắc: quyền của cá nhân này kết thúc nơi quyền của cá nhân khác bắt đầu. Tự do ngôn luận không đồng nghĩa với tự do mạt sát, tự do bịa đặt hay tự do gây rối trật tự công cộng. Khi muốn bày tỏ quan điểm về một vấn đề chính trị, xã hội hay phê bình một cá nhân, tổ chức, mỗi người cần phải dựa trên những dữ liệu xác thực. Việc kiểm chứng thông tin trước khi phát ngôn hay chia sẻ là trách nhiệm đạo đức và pháp lý tối thiểu.
Bên cạnh việc kiểm chứng nội dung, cách thức truyền đạt và thái độ ứng xử cũng đóng vai trò quyết định. Một người dân hoàn toàn có quyền phản biện các chính sách, góp ý cho các cơ quan Nhà nước hoặc phản ánh các hành vi tiêu cực của cán bộ, công chức. Thế nhưng, sự phản biện đó phải mang tính xây dựng, sử dụng ngôn từ văn minh, lịch sự và quan trọng nhất là phải có chứng cứ đi kèm. Nếu sự phản diện biến tướng thành những lời lẽ thóa mạ, chửi bới, quy chụp một cách vô căn cứ cho cả một tập thể hoặc xúc phạm đời tư cá nhân, thì lúc đó bạn đã bước sang lãnh địa của hành vi vi phạm pháp luật. Các hành vi như vu khống, làm nhục người khác hoặc lợi dụng các quyền tự do dân chủ đều được quy định rất rõ trong Bộ luật Hình sự và Luật An ninh mạng. Người dân nên dành thời gian để tìm hiểu các quy định của Luật An ninh mạng năm 2018, đặc biệt là các điều khoản cấm việc đăng tải thông tin sai sự thật gây hoang mang dư luận, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội hoặc xâm phạm quyền lợi của người khác.
Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh về tinh thần thượng tôn pháp luật trong mỗi cá nhân. Trước khi nhấn nút đăng tải một dòng trạng thái hay thực hiện một cuộc livestream, mỗi người nên tự có cơ chế kiểm soát. Thay vì tin theo những luồng dư luận cực đoan hoặc những cá nhân có tư tưởng kích động, người dân nên tiếp cận thông tin từ các cơ quan báo chí chính thống và thực hiện quyền góp ý, khiếu nại, tố cáo thông qua các kênh chính thức mà pháp luật đã quy định như các hòm thư góp ý, các buổi tiếp dân hoặc các văn bản kiến nghị gửi cơ quan có thẩm quyền. Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận một cách có hiểu biết và có trách nhiệm không chỉ giúp mỗi cá nhân tránh khỏi những vòng xoáy pháp lý phức tạp, mà còn góp phần xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật, văn minh và bền vững.
Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU
Chủ nhiệm Cơ quan truyền thông Liên đoàn Luật sư Việt Nam

