Cần điều kiện gì để được miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
(LSVN) – Theo quy định của pháp luật hiện hành, cần điều kiện gì để được miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước? Bạn đọc Y.N. hỏi.
![]()
Ảnh minh họa.
Điều 61 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định rõ về điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước. Theo đó, người phải thi hành án được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng;
- Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng.
Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Thuộc trường hợp quy định trên tại điểm a khoản 1 Điều này;
- Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng.
Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có một trong các điều kiện sau đây:
- Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án;
- Hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng.
Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại.
Người phải thi hành án quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định.
Quyết định thi hành án lần đầu là căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn Điều này.
THU UYÊN
Trình tự, thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Sửa đổi, bổ sung quy định về miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn
(LSVN) – Các trường hợp miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn; thẩm quyền, trình tự, thủ tục miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn thực hiện theo quy định tại Điều 77 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 38 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các khoản 2, 3, 4, 5 Điều này.
![]()
Ảnh minh họa.
Nghị định 102/2021/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 16/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn; hải quan; kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số; quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc Nhà nước; kế toán, kiểm toán độc lập.
Trong đó, Nghị định sửa đổi, bổ sung Điều 43 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn
Các trường hợp miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn; thẩm quyền, trình tự, thủ tục miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn thực hiện theo quy định tại Điều 77 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 38 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các khoản 2, 3, 4, 5 Điều này.
Mức miễn, giảm tiền phạt tối đa bằng số tiền phạt trong quyết định xử phạt và không quá giá trị tài sản, hàng hóa bị thiệt hại, sau khi trừ đi giá trị được bảo hiểm, bồi thường (nếu có).
Người nộp thuế bị thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng quy định tại Luật Quản lý thuế thì hồ sơ chứng minh giá trị tài sản, hàng hóa bị thiệt hại và giá trị được bảo hiểm, bồi thường như sau:
- Biên bản kiểm kê, xác định giá trị thiệt hại vật chất do người nộp thuế hoặc người đại diện hợp pháp của người nộp thuế lập;
- Biên bản xác định giá trị thiệt hại vật chất của tổ chức có chức năng định giá theo quy định của pháp luật (bản chính hoặc bản sao có xác nhận công chứng hoặc chứng thực), trừ trường hợp có hồ sơ bồi thường quy định tại điểm c khoản này;
- Hồ sơ bồi thường thiệt hại vật chất được cơ quan bảo hiểm chấp nhận bồi thường theo quy định của pháp luật (bản chính hoặc bản sao có xác nhận công chứng hoặc chứng thực) (nếu có);
- Hồ sơ trách nhiệm bồi thường của tổ chức, cá nhân phải bồi thường theo quy định của pháp luật (bản chính hoặc bản sao có xác nhận công chứng hoặc chứng thực) (nếu có).
Không miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đối với các trường hợp đã thực hiện xong quyết định xử phạt.
Trường hợp được miễn, giảm tiền phạt thì cũng được miễn, giảm tiền chậm nộp tiền phạt tương ứng.
Người nộp thuế đã được miễn, giảm tiền phạt nhưng cơ quan có thẩm quyền, cơ quan thuế phát hiện việc miễn, giảm tiền phạt không đúng quy định tại Điều này thì người có thẩm quyền miễn, giảm tiền phạt ban hành quyết định hủy hoặc điều chỉnh quyết định miễn, giảm tiền phạt. Cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế có trách nhiệm thu vào ngân sách nhà nước khoản tiền phạt đã được miễn, giảm không đúng và tính tiền chậm nộp trên số tiền phạt được miễn, giảm không đúng. Ngày bắt đầu tính tiền chậm nộp tiền phạt được miễn, giảm không đúng là ngày tổ chức, cá nhân bị xử phạt nộp đầy đủ hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền phạt.
Nghị định 102/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/01/2022.
HÀ ANH
Trình tự, thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Tội phạm vu cáo đối với người khác theo Bộ luật Gia Long
(LSVN) -
![]()
Ảnh minh họa.
Theo Điều 305 của Luật Gia Long phàm vu cáo đối với người khác phải tội bị đánh roi thì áp dụng chỉnh hình phạt về đánh roi đó để xử đối với kẻ vu cáo và gia tăng thêm 2 bậc. Nếu vụ cáo đối với người kia vào tội lưu, đồ, trượng (cho dù là đã thực hiện hình phạt hay chưa) thì đem ngay hình phạt đó để áp dụng cho kẻ vu cáo và có gia tăng thêm 3 bậc, nhưng mút tội là 100 trượng và lưu 3.000 dặm (nhưng không được gia thêm đến tội phải giết chết).
Nếu như người bị vu cáo đã phải thi hành các hình phạt về đồ lưu thì phải tính ra số phí tổn mà người đó phải chịu trong suốt thời gian bị đồ lưu là bao nhiêu, từ đó lấy tiền của tên vụ cảo để trả lại cho người bị vu cáo, nếu là người bị vu cáo đã phải cầm cổ ruộng đất dùng để chi phí trong thời gian phải thi hành án thì lấy tiền của tên vu cáo để chuộc lại những ruộng đất trên cho người bị vu cáo.
Ngoài các khoản trên đây, còn phải lấy thêm một nửa số gia tài của tên vụ cáo để cấp cho gia đình của người bị vụ cáo. Nếu vì đi theo để làm việc chăm sóc đối với người bị vu cáo ấy mà một người thân thuộc còn phải để tang của người bị vu đến nỗi bị chết thì kẻ vu cáo phải bị tội giảo giam hậu.
Nếu vụ cáo cho người ta đến tội phải xử tử (thuộc giảo hoặc trảm) và đã bị bắt giết chết rồi thì kẻ vu cáo cũng phải bị xử tử, nhưng trước khi đưa ra xử tử thì gia đình của y cũng phải bồi thường đủ về số tiền phí tổn mà nạn nhân đã phải bỏ ra trong thời gian thi hành án và dùng nửa số gia tài còn lại của y để làm tiền chuộc lỗi và đem cấp phát cho gia đình nạn nhân để làm phương tiện sinh sống.
Nếu người bị vu cáo chưa bị xử tử thì kẻ vu cáo bị xử phạt 100 trượng và lưu 3.000 dặm, nhưng khi đến nơi lưu đày thì y còn bị gia thêm hình phạt đồ 3 năm. Nếu quả kẻ can phạm là nhà nghèo túng, không thể lo đủ số tiền đền phần lộ phí, cùng với tiền chuộc về nhà ruộng, và cũng không có tài sản để đem cấp cho thân nhân người đã chết thì chỉ xử tội không mà thôi.
Trong sách Đại Nam hội điển sự lệ cũng có chép về hình phạt đối với kẻ phạm tội vu cáo như sau: Phàm kẻ nào vu cáo cho người khác đáng phải xử tội đánh roi thì xử kẻ vu cáo ấy tăng hơn tội đã vu cáo ra 2 bậc, đáng phải tội lưu, đồ, trượng (không kể là đã hay chưa thi hành án và đem đi đày) thì kẻ vu cáo ấy phải gia hơn tội đã vu 3 bậc. Các tội nói trên chỉ xử phạt 100 trượng và lưu 3.000 dặm (và không được gia lên đến tội giảo).
Nếu vụ cho người phải tội đồ mà người ấy đã làm việc phục dịch rồi (tức là đã thi hành án rồi), hoặc là vụ cho người phải tội lưu mà người ấy đã bị đưa đi đày rồi, thì tuy về sau đã được cải chính và tha cho về, nhưng phải xét xem số ngày của người bị vu cáo và đã bị bắt giam cho đến ngày được tha về là bao nhiêu ngày, cứ theo bản thân tên can phạm ấy mà truy thu số tiền lệ phí đã phải chi dùng đã qua để cấp cho người bị vu cáo. Nếu người bị vu cáo đã phải cầm cố ruộng nhà thì bắt kẻ vu cáo phải lo đủ giá tiền chuộc lại. Nếu vì việc vu cáo ấy mà làm cho một người đi theo người bị vu cáo là thân thuộc còn phải để tang của người bị vu cáo và người ấy đã bị chết thì kẻ vu cáo phải bị tội giảo giam hậu. Trừ những số tiền đền lộ phí và chuộc gia sản ra, lại xử lấy một nửa số gia sản của kẻ can phạm đem cấp cho người bị vu cáo.
Nếu vụ cáo cho người đến tội bị xử tử mà người bị vu ấy đã bị xử tử rồi (theo tội xử trảm hay giảo ) thì bắt tội lại kẻ vu cáo và đem xử tử. Tuy đã phải tội xử tử nhưng cũng vẫn bắt phải nộp đủ tiền bồi thường, tiền chuộc về gia sản và lấy một nửa số gia sản còn lại để đem cấp cho gia đình của người bị vu cáo và đã xử về tội giết chết để làm tiền cấp dưỡng; nếu như người bị vu chưa bị xử tử thì kẻ vu cáo bị xử phạt 100 trượng, lưu 3.000 dặm, khi đến nơi lưu đày thì y còn bị gia thêm về tội đồ 3 năm.
Nếu như kẻ can phạm quả là nhà nghèo túng, không thể lo đủ số tiền đền phần lộ phí, tiền chuộc về nhà ruộng, cũng không có được tài sản để lấy ra cấp cho nhà người chết làm tiền cấp dưỡng thì chỉ bị xử riêng về tội mà thôi (gọi là phạt phản tọa).
Ở phần Điều lệ, nhà làm luật có nói thêm: “Nếu vu cáo người khác là phản nghịch, gây rối và người bị vu cáo đã bị xử chém ngay rồi thì người vu cáo cũng bị xử chém ngay. Nếu người bị vu cáo chưa đến hạn thi hành về tội chết thì người vu cáo bị xử trảm giam hậu và đều không xử đến vợ con và gia sản”.
CẨM NGỌC
Pháp luật triều Nguyễn quy định về chế tài của điều kiện kết hôn
Đại dịch Covid-19: Áp dụng pháp luật về sự kiện bất khả kháng hay thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản?
(LSVN) - Sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 đã có những tác động lớn đến mọi mặt đời sống, trong đó có hoạt động giao kết và thực hiện hợp đồng. Xung quanh vấn đề này, vẫn còn các luồng ý kiến khác nhau về việc áp dụng quy định về sự kiện bất khả kháng, sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh để giải quyết hợp đồng.

Ảnh minh họa.
Thứ nhất, đại dịch Covid-19 có phải sự kiện bất khả kháng không?
Đây là câu hỏi thu hút nhiều sự quan tâm, thể hiện quan điểm của đông đảo các tác giả. Đại đa số đều cho rằng dịch Covid-19 là sự kiện bất khả kháng như tác giả Nguyễn Hương[1]: “Nếu những hậu quả xảy ra dù trước đó đã dùng mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn không thể khắc phục được thì hoàn toàn có thể coi dịch bệnh Covid-19 là sự kiện bất khả kháng” hay nhóm tác giả Luật sư Lê Đình Vinh, Luật sư Nguyễn Thanh Hà[2]: “Như vậy, với các sự kiện pháp lý nêu trên, chúng ta hoàn toàn có đủ căn cứ để khẳng định rằng dịch Covid-19 là một sự kiện bất khả kháng đối với các bên trong quan hệ hợp đồng”.
Tuy nhiên, tôi cho rằng không thể khẳng định một cách chắc chắn rằng “dịch Covid-19 là sự kiện bất khả kháng” mà muốn xem xét vấn đề này cần đặt trong từng trường hợp cụ thể.
Theo khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, sự kiện bất khả kháng là những sự kiện xảy ra ngoài ý chí của con người khiến chúng ta không thể lường trước và khắc phục được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết, khả năng cho phép. Theo đó, một sự kiện được xem là sự kiện bất khả kháng khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Sự kiện xảy ra một cách khách quan hay gọi là sự kiện khách quan, tức sự kiện đó nằm ngoài phạm vi kiểm soát của bên vi phạm hợp đồng;
- Hậu quả của sự kiện không thể lường trước được tại thời điểm giao kết hoặc trong quá trình thực hiện hợp đồng cho đến trước thời điểm xảy ra hành vi vi phạm;
- Hậu quả của sự kiện đó không thể khắc phục được mặc dù áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Như vậy, chỉ khi đáp ứng các điều kiện nêu trên thì một sự kiện mới được xem là bất khả kháng và là căn cứ để miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm. Theo đó, những hiện tượng thiên tai như mưa, lũ, hỏa hoạn, bão, sóng thần, núi lửa phun trào,....là sự kiện bất khả kháng. Điều này được áp dụng thống nhất trong thực tiễn. Ngoài ra, các hiện tượng xã hội như chiến tranh, đảo chính, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách của Chính phủ cũng là sự kiện bất khả kháng. Đáng chú ý, các bên có thể thỏa thuận những sự kiện khác: thiếu nhiên liệu, mất điện, lỗi mạng,...là sự kiện bất khả kháng để miễn trách nhiệm khi vi phạm.
Hiện nay, vấn đề bất khả kháng còn quy định chung chung chưa bao quát được các trường hợp trong thực tế nên trong thực tiễn áp dụng các bên thường xuyên xảy ra tranh chấp liên quan đến việc xác định trường hợp được xem là bất khả kháng.
Ngày 29/01/2020, tại Quyết định 219/QĐ-BYT, Bộ Y tế đã bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra (có tên gọi là Covid-19) vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A. Theo đó, các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 gồm những bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh. Theo tình hình hiện nay, dịch bệnh Covid-19 có mức độ lây lan nhanh, thuộc trường hợp khẩn cấp toàn cầu. Đáng lưu ý, theo tình hình hiện nay, dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều lĩnh vực của nước ta như: Dừng các hoạt động du lịch, kinh tế, xuất khẩu,… Cách ly người dân dẫn đến việc người lao động nghỉ làm, học sinh, sinh viên nghỉ học, thầy cô giáo nghỉ dạy,… Có thể thấy, những ảnh hưởng đến các hoạt động này là không thể khắc phục được.
Như vậy, đối chiếu với 03 điều kiện của sự kiện bất khả kháng chúng ta thấy:
- Đại dịch Covid-19 xảy ra khách quan: Đây là một loại đại dịch vô cùng nghiêm trọng, sức tàn phá và hậu quả của nó đã chứng minh cho nó là sự kiện nằm ngoài phạm vi kiểm soát của con người.
- Không lường trước được: Tại thời điểm trước khi đại dịch xuất hiện, không ai có thể biết rằng đại dịch sẽ xuất hiện.
- Không thể khắc phục được: Nếu bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 mà đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết nhưng không khắc phục được hậu quả thì được xem là sự kiện bất khả kháng. Chính vì điều kiện này đã nảy sinh các quan điểm khác nhau, có người cho đại dịch Covid-19 là sự kiện bất khả kháng, có người lại không cho Covid-19 là sự kiện bất khả kháng. Do đó, để đánh giá thế nào là “không khắc phục được” theo quy định của pháp luật phải tùy từng trường hợp cụ thể, phụ thuộc vào từng giai đoạn, từng địa phương và từng mức độ dịch khác nhau.
Ví dụ: Cùng là hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng hợp đồng 1 được giao kết giữa những người thuộc vùng lãnh thổ chỉ yêu cầu xét nghiệm, không áp dụng các biện pháp “ngăn sông cấm chợ” thì rõ ràng có những trường hợp hợp đồng vẫn có thể được thực hiện. Nhưng hợp đồng 2 lại được giao kết giữa những người thuộc vùng lãnh thổ bị áp dụng biện pháp cách ly người với người (như địa bàn TP. Hồ Chí Minh thời gian vừa qua) thì rõ ràng hợp đồng đã giao kết là không thể thực hiện được.
Thứ hai, đại dịch Covid-19 có phải hoàn cảnh thay đổi cơ bản không?
Như đã phân tích ở trên, trong nhiều trường hợp không thể coi đại dịch Covid-19 là sự kiện bất khả kháng. Nhưng trong những trường hợp này, việc thực hiện hợp đồng lại vô cùng khó khăn. Do đó, giải pháp đưa ra là các bên có thể áp dụng quy định tại Điều 420 BLDS để giải quyết.
Theo đó, để xác định là hoàn cảnh thay đổi cơ bản, cần đáp ứng các điều kiện sau:
- Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
- Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
- Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
- Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
- Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.
Như vậy, hoàn cảnh thay đổi cơ bản có nhiều điểm giống sự kiện bất khả kháng, điểm khác nhau cơ bản nhất đó là nếu sự kiện bất khả kháng thì phải “không thể khắc phục được”, còn trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì “hợp đồng vẫn có thể tiếp tục thực hiện” nhưng sẽ “gây thiệt hại nghiêm trọng” cho một bên. Khi chứng minh được nếu thực hiện hợp đồng sẽ gây thiệt hại cho một bên thì sẽ áp dụng pháp luật trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Ví dụ: Nếu thực hiện hợp đồng thì sẽ phát sinh chi phí xét nghiệm, chi phí cách ly, phí bảo quản, lưu kho trong thời gian chờ, phí khử khuẩn,… gây tổn thất cho bên bán.
Tuy nhiên, qua vấn đề này cũng đặt ra như thế nào là “không lường trước được”, như thế nào là “thiệt hại nghiêm trọng”. Đối với tính “không lường trước được” theo Điều 420 vẫn còn khá chung chung, vẫn tạo kẽ hở tương đối lớn khi áp dụng. Bên có lợi ích bị ảnh hưởng chỉ cần chứng minh là hoàn cảnh đó mình không biết sẽ xảy ra trong tương lai là có thể yêu cầu được áp dụng. Có tình huống hoàn cảnh xảy ra sau khi giao kết hợp đồng, và bên bị ảnh hưởng cũng không biết là nó sẽ xảy ra, nhưng nếu bên này nghiên cứu kỹ càng, hợp lý thì vẫn có thể đoán trước hoàn cảnh có thể xảy ra.
Ví dụ trường hợp quốc gia đóng cửa biên giới để ngăn chặn dịch bệnh, trong khi thời điểm giao kết hợp đồng là trước thời điểm đóng cửa nhưng dịch Covid-19 đã xuất hiện. Lúc này, một bên vẫn có thể viện dẫn rằng “mình không thể biết được” quốc gia sẽ đóng cửa biên giới hay sẽ đóng vào khi nào, bên kia có thể viện dẫn “với diễn biến của dịch Covid-19, buộc phải dự liệu được trường hợp quốc gia đóng cửa biên giới”. Do vậy, tính “không thể lường trước” theo Điều 420 nên quy định chặt chẽ hơn, theo hướng bản chất của hoàn cảnh đó là không thể lường trước và theo diễn giải của PICC thì đó phải là sự không lường trước một cách hợp lý. Đối với “thiệt hại nghiêm trọng” cũng không được giải thích rõ. Tuy nhiên, theo tinh thần của nguyên tắc giao kết hợp đồng, thiệt hại nghiêm trọng ở đây có thể được hiểu là sự thiệt hại đó làm cho một bên không đạt được mục đích của mình khi giao kết hợp đồng, việc xác định trong từng trường hợp do Tòa án quyết định.
Như vậy, đại dịch Covid-19 có thể là sự kiện bất khả kháng hay hoàn cảnh thay đổi cơ bản còn tùy thuộc trường hợp cụ thể cũng như việc xem xét, đánh giá của chủ thể có thẩm quyền. Không thể có một khẳng định chung rằng đại dịch này có phải sự kiện bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không. Đồng thời, cũng cần nghiên cứu hoàn thiện quy định về hai vấn đề này./.
VĂN LINH
Tòa án quân sự khu vực Hải quân
[1] Nguyễn Hương, Covid-19 có phải là “sự kiện bất khả kháng” không, https://luatvietnam.vn/dan-su/covid-19-co-phai-la-su-kien-bat-kha-khang-khong-568-23893-article.html
[2] Lê Đình Vinh, Nguyễn Thanh Hà, Dịch Covid-19 có phải là sự kiện bất khả kháng để doanh nghiệp được miễn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, Tạp chí Luật sư điện tử, ngày 27/7/2021.
Thực tiễn thi hành Luật Đất đai 2013 và những bất cập cần sửa đổi, bổ sung

