/ Bút ký Luật sư
/ Cần tăng cường quyền hạn cho tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư để thực hiện tốt chức năng xã hội của luật sư

Cần tăng cường quyền hạn cho tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư để thực hiện tốt chức năng xã hội của luật sư

03/04/2026 14:39 |

(LSVN) - Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về hoàn thiện bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, thực hiện mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo vệ quyền công dân, quyền con người. Trong các chủ trương lớn đó đều có mối liên hệ trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, vị trí vai trò và hoạt động hành nghề luật sư.

Dưới ánh sáng Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Hiến pháp năm 2013. Gần đây nhất là Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trong nội dung các văn kiện nói trên, chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của luật sư đều được đề cập, nhấn mạnh và coi lực lượng luật sư là nguồn lực quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện đạt hiệu quả. Để đáp ứng yêu cầu của xã hội, thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao, giới luật sư cần phải được tổ chức một cách khoa học, cấu trúc hệ thống chặt chẽ, thông qua hệ thống tổ chức hành nghề luật sư từ trung ương đến cơ sở. Các tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư, tổ chức hành nghề luật sư phải được trao quyền tương ứng, nhiệm vụ cụ thể làm cơ sở, căn cứ để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Về cấu trúc bộ máy của tổ chức hành nghề luật sư. Theo quy định Luật Luật sư năm 2006, hệ thống tổ chức luật sư từ Trung ương đến địa phương bao gồm: (i) Liên đoàn Luật sư Việt Nam (tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư ở Trung ương) [1], trong đó xác định thành viên của Liên đoàn Luật sư Việt Nam là các Đoàn Luật sư và các luật sư. (ii) Đoàn Luật sư (tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư ở địa phương) thành viên của Đoàn Luật sư là các luật sư. (iii) Các tổ chức hành nghề luật sư của luật sư gồm: Văn phòng luật sư, Công ty luật trách nhiệm hữu hạn, Công ty luật hợp danh và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân. Các tổ chức hành nghề luật sư không phải là thành viên của Đoàn Luật sư.        

Xét về mặt cấu trúc hệ thống, thì tổ chức bộ máy của luật sư như hiện nay bảo đảm cho việc quản lý, triển khai công tác của luật sư trong cả nước. Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập hạn chế trong phát huy năng lực luật sư trong quá trình quản lý và thực hiện chức năng, nhiệm vụ và hoạt động hành nghề hợp pháp của luật sư. Cụ thể như, tổ chức hành nghề của luật sư, nơi thực hiện công tác quản lý luật sư, tổ chức các hoạt động hành nghề, triển khai chức năng, nhiệm vụ của luật sư quyết định hiệu quả hoạt động của luật sư lại không phải là thành viên của Đoàn Luật sư. Do vậy, tổ chức hành nghề luật sư trong chừng mục nhất định không có nhiệm vụ hay trách nhiệm phải thi hành đối với những quyết định của Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam buộc các thành viên phải thực hiện.

Theo Luật Luật sư, Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam thì Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên của mình, vậy tổ chức hành nghề luật sư có được bảo vệ khi lợi ích hợp pháp bị xâm hại hay không? Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam có thẩm quyền giám sát hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư hay không? Tổ chức hành nghề luật sư có là đối tượng bị chi phối, điều hành hoặc thực thi công tác theo quyết định của Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam? Những nội dung này được quy định tại điều 61 Luật Luật sư năm 2006, những quy định này vẫn còn hạn chế khiên cưỡng khi tổ chức hành nghề luật sư không phải là thành viên của Đoàn Luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

Về nhiệm vụ, quyền hạn. Theo quy định hiện hành, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư không có chức năng hành nghề luật sư, không được thực hiện 04 nhóm công việc quy định tại Điều 22 của Luật Luật sư (tham gia tố tụng, đại diện theo ủy quyền, tư vấn pháp luật, dịch vụ pháp lý) 04 nhóm công việc này do tổ chức hành nghề luật sư và luật sư thực hiện. Như vậy, để thực hiện chức năng xã hội của luật sư, Luật Luật sư cần quy định thêm chức năng, nhiệm vụ cho Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư được tổ chức thực hiện 04 nhóm công việc thuộc phạm vi hành nghề luật sư. Để Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư thực hiện chức năng tư vấn pháp luật cần thiết quy định bắt buộc phải thành lập Trung tâm Tư vấn pháp luật trực thuộc Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư theo quy định như đã quy định tại Nghị định 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ quy định về tư vấn pháp luật.

Tính đến thời điểm hiện nay, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã có hơn 21.000 luật sư thành viên, hoạt động trong hơn 6.000 tổ chức hành nghề luật sư trong cả nước, với lực lượng luật sư lớn mạnh, được Đảng và Nhà nước giao thực hiện chức năng xã hội và những mục tiêu quan trọng trong xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư cần thiết phải được trao nhiệm vụ, quyền hạn tương xứng để hoàn thành chức năng xã hội. Cụ thể, cần xem xét bổ sung:

Đối với Liên đoàn Luật sư Việt Nam

(i) Cần được giao quyền xây dựng cơ sở vật chất đào tạo nguồn luật sư (trong đó: đào tạo nghề, tổ chức thi hết tập sự, đào tạo đội ngũ luật sư chuyên ngành, luật sư thương mại quốc tế, luật sư quốc tế để thu hút người nước ngoài dự đào tạo luật sư tại Việt Nam)... 

(ii) Xây dựng chương trình và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ theo chủ đề, tài liệu tập trung, mở các khóa bồi dưỡng cấp chứng chỉ đào tạo cho các chuyên ngành luật cho luật sư, công chức, viên chức nhà nước các đối tượng xã hội, đội ngũ pháp chế muốn nâng cao kiến thức pháp luật, các kỹ năng xử lý giải quyết xung đột, tranh chấp, hòa giải trong và ngoài tố tụng, hòa giải cơ sở... Luật hóa giá trị bằng cấp, chứng chỉ đào tạo về pháp luật trong hệ thống đào tạo quốc gia..

(iii) Được tự tổ chức nghiên cứu pháp luật, xây dựng pháp luật (trong đó: xây dựng đề án, dự án luật theo đặt hàng của Chính phủ, Quốc hội, trình dự thảo dự án Luật, trình dự thảo Án lệ) thông qua việc thành lập Trung tâm nghiên cứu, Trung tâm tư vấn pháp luật hoặc Viên nghiên cứu xây dựng pháp luật...  

(iv) Xây dựng và thực hiện giải pháp liên kết pháp luật với kinh tế (về lý luận và thực tiễn thông qua hoạt động giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam với bộ ngành kinh tế, hiệp hội doanh nghiệp để chuẩn hóa tiêu chí triển khai phổ biến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vửa doanh nghiệp tư nhân theo Nghị quyết 68-NQ/TW). Phối hợp bộ ngành liên quan triển khai hoạt động luật sư trong phạm vi quy định.

(v) Xây dựng bộ giáo trình đào tạo luật sư chuyên sâu cho từng chuyên ngành có tính lý luận khoa học và thực tiễn phong phú đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội, đất nước.

Đối với Đoàn Luật sư 

(i) Cần xác định vị trí vai trò trong tư vấn và phản biện xã hội đối với các dự án phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

(ii) Được giao nhiệm vụ tham gia hoặc tự tổ chức thực hiện trong xây dựng trình các dự thảo góp ý đề án, dự án luật khi được Ủy ban nhân dân, Đoàn Đại biểu Quốc hội đặt hàng hoặc yêu cầu.

(iii) Nghiên cứu xây dựng chương trình phối hợp với các sở ngành trong việc triển khai thực hiện phổ biến tuyên truyền pháp luật liên quan đến luật sư như: Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Giáo dục, Luật Phổ biến tuyên truyền pháp luật, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Bảo vệ người tiêu dùng ...

(iv) Đoàn Luật sư phải thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật để thực hiện các nhiệm vụ của Đoàn Luật sư và thông qua trung tâm tạo mối quan hệ và tham gia hỗ trợ chính quyền địa phương trong việc xây dựng chính sách giải quyết xung đột, tranh chấp, hòa giải cơ sở và phổ biến tuyên tryền pháp luật. Hiện nay, cơ chế hoạt động hành nghề luật sư diễn ra trong các tổ chức hành nghề luật sư, các hoạt động này là độc lập thậm chí mang tính cạnh tranh là nguồn gốc nảy sinh ngăn cách, chia rẽ giữa các luật sư, việc lập Trung tâm tư vấn pháp luật  để các luật sư cùng tham gia là sợi dây kết nối luật sư tạo sức mạnh của Đoàn Luật sư và thuận tiện trong triển khai công tác chung của Đoàn Luật sư.

Đối với tổ chức hành nghề luật sư

(i) Tổ chức hành nghề luật sư (công ty luật trách nhiệm hữu hạn, công ty luật hợp danh là thành viên của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư).

(ii) Văn phòng luật sư và các cộng sự có tư cách pháp nhân để thực hiện đầy đủ nhóm công việc nhận ủy quyền tham gia tố tụng.

Trong xu thế phát triển chung của đất nước, lực lượng luật sư ngày càng phát triển về số lượng, chất lượng, được xã hội thừa nhận, Đảng và Nhà nước tin tưởng giao nhiệm vụ để giới luật sư góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Việc sửa đổi Luật Luật sư là cơ hội giới luật sư kiến nghị Đảng và Nhà nước bổ sung quyền hạn thêm cơ chế và phạm vi hoạt động cho luật sư làm nền tảng cơ sở pháp lý để luật sư thực hiện tốt chức năng xã hội nghề nghiệp luật sư.

[1] Điều 64 Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012.

Luật sư PHẠM ĐỨC HÙNG

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Giám sát hỗ trợ luật sư.