Một trong những nội dung đáng chú ý là việc sửa đổi, bổ sung quy định về hình thức xử phạt và thẩm quyền xử phạt của nhiều lực lượng, trong đó có Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ đội Biên phòng.
Cụ thể, Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền xử phạt của Cảnh sát biển Việt Nam đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Chương II, trừ một số hành vi vi phạm của cá nhân nước ngoài theo quy định tại các điểm a, e và g khoản 7 Điều 8b của Nghị định.
Theo đó, Cảnh sát viên Cảnh sát biển đang thi hành công vụ được phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 50 triệu đồng, đồng thời được tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 2 lần mức tiền phạt.
Tổ trưởng Tổ nghiệp vụ Cảnh sát biển có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100 triệu đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 2 lần mức tiền phạt.
Đội trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển, Trạm trưởng Trạm Cảnh sát biển có quyền phạt đến 200 triệu đồng và được áp dụng một số biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định...
Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển có quyền phạt đến 300 triệu đồng; Hải đoàn trưởng Hải đoàn Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy thuộc Cảnh sát biển Việt Nam có quyền phạt đến 500 triệu đồng, đồng thời được tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...
Đáng chú ý, Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và Pháp luật thuộc Cảnh sát biển Việt Nam có quyền phạt đến 800 triệu đồng. Mức cao nhất thuộc về Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, với thẩm quyền phạt tiền đến 1 tỉ đồng, cùng các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Nghị định số 82/2026/NĐ-CP đồng thời sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền xử phạt của Bộ đội Biên phòng đối với các hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, phạm vi địa bàn quản lý của lực lượng này.
Theo quy định mới, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 50 triệu đồng, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 2 lần mức tiền phạt.
Trạm trưởng, Đội trưởng có quyền phạt tiền đến 100 triệu đồng; Đội trưởng Đội đặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Đoàn đặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm có quyền phạt đến 150 triệu đồng...
Đồn trưởng Đồn Biên phòng, Hải đội trưởng Hải đội Biên phòng, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Biên phòng Cửa khẩu cảng có quyền phạt đến 300 triệu đồng.
Trong khi đó, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Cục Phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng được phạt đến 500 triệu đồng.
Mức cao nhất thuộc về Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng; Hải đoàn trưởng Hải đoàn Biên phòng; Cục trưởng Cục Phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, với thẩm quyền phạt tiền đến 1 tỉ đồng, kèm quyền tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định...

