Vào tháng 8/2025, hàng chục lao động đang làm việc tại Công ty TNHH MTV Vải Kỹ thuật Việt Nam (địa chỉ lô 8 KCN Điện Nam – Điện Ngọc, phường Điện Bàn Đông, TP. Đà Nẵng) đã đồng loạt ký đơn kiến nghị phản ánh về việc doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng các loại bảo hiểm bắt buộc trong thời gian dài.
Theo nội dung phản ánh, trong khoảng 2 năm 4 tháng, Công ty không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH, dẫn đến hàng loạt hệ lụy người lao động không được xác nhận quá trình tham gia bảo hiểm, không thể giải quyết các chế độ thiết yếu như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí… Đồng thời, quyền lợi khám chữa bệnh theo BHYT cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Một người lao động bức xúc cho biết, dù doanh nghiệp nhiều lần họp và cam kết sẽ khắc phục, nhưng đến nay các quyền lợi bảo hiểm vẫn chưa được đảm bảo, gây tâm lý lo lắng, bất an, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và công việc.

Công ty TNHH MTV Vải Kỹ Thuật Việt Nam, địa chỉ lô 8 KCN Điện Nam – Điện Ngọc, phường Điện Bàn Đông TP. Đà Nẵng.
Liên quan đến vụ việc, Cơ quan BHXH cơ sở Điện Bàn (Đà Nẵng) cho biết, Tổ công tác cơ sở BHXH Điện Bàn thuộc BHXH TP. Đà Nẵng cùng đại diện Công ty TNHH MTV Vải Kỹ Thuật Việt Nam tiến hành lập Biên bản làm việc số 02/BB-TCT ngày 18/11/2025 với tổng số tiền mà Công ty chậm đóng, trốn đóng các loại bảo hiểm đã lên tới hơn 1,2 tỉ đồng, trong đó phần lớn là khoản nợ kéo dài. Mặc dù doanh nghiệp đã có động thái nộp một phần tiền, song số nợ còn lại vẫn ở mức cao, chưa được khắc phục triệt để. Đến nay, doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện đúng nội dung đã cam kết.
Để làm rõ vấn đề, phóng viên đã nhiều lần liên hệ với Công ty nhưng không được.
Ông Nguyễn Trí Đại, Giám đốc BHXH TP. Đà Nẵng cho biết, đơn vị đã tiếp nhận thông tin, tổ chức làm việc và đang tiếp tục theo dõi, rà soát hồ sơ. Trong thời gian tới, nếu có đủ căn cứ xác định hành vi vi phạm, cơ quan BHXH sẽ có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt theo đúng quy định pháp luật.
Việc doanh nghiệp chậm đóng bảo hiểm kéo dài không chỉ là vi phạm nghĩa vụ tài chính mà còn trực tiếp xâm phạm quyền an sinh cơ bản của người lao động.

Biên bản làm việc số 02/BB-TCT ngày 18/11/2025 giữa BHXH cơ sở Điện Bàn thuộc BHXH TP. Đà Nẵng với Công ty TNHH MTV Vải kỹ Thuật Việt Nam.
Trước thực trạng nêu trên, người lao động kiến nghị các cơ quan chức năng sớm kiểm tra, thanh tra toàn diện, buộc doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm, đồng thời xem xét xử lý nghiêm theo quy định pháp luật nếu có vi phạm. Việc xử lý dứt điểm không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động mà còn góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tạo môi trường lao động công bằng, minh bạch.

BHXH cơ sở Điện Bàn thuộc BHXH TP. Đà Nẵng, địa chỉ Hồ Xuân Hương, phường Điện Bàn TP. Đà Nẵng.
Theo ý kiến của chuyên gia, dưới góc độ pháp lý, vụ việc tại Công ty TNHH MTV Vải Kỹ thuật Việt Nam không còn dừng lại ở vi phạm hành chính thông thường, mà đã có dấu hiệu của hành vi vi phạm kéo dài, xâm phạm trực tiếp đến quyền an sinh cơ bản của người lao động – một quyền được Hiến pháp và pháp luật lao động bảo vệ.
Trước hết, cần khẳng định nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN là nghĩa vụ bắt buộc, không phụ thuộc vào khả năng tài chính hay thiện chí của doanh nghiệp. Đối với thời gian vi phạm trước ngày 01/7/2025, việc xem xét trách nhiệm được đối chiếu theo quy định của Luật BHXH 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan; đối với thời gian từ ngày 01/7/2025 trở đi, áp dụng Luật BHXH 2024 cùng các quy định pháp luật hiện hành có liên quan. Việc doanh nghiệp chậm đóng trong thời gian lên tới hơn 2 năm, với số tiền trên 1,2 tỉ đồng, không thể xem là “khó khăn tạm thời” mà có dấu hiệu của hành vi chiếm dụng quỹ bảo hiểm.
Về bản chất pháp lý, khoản tiền mà doanh nghiệp phải đóng bảo hiểm không hoàn toàn là “tiền của doanh nghiệp”, mà bao gồm cả phần trích từ tiền lương của người lao động. Do đó, việc không nộp bảo hiểm thực chất là hành vi giữ lại, sử dụng trái phép một phần thu nhập hợp pháp của người lao động – yếu tố này làm gia tăng tính chất nghiêm trọng của hành vi vi phạm.
Đáng chú ý, với thời gian vi phạm kéo dài và số tiền lớn như đã nêu, vụ việc đã có dấu hiệu rõ ràng để xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 216 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Cụ thể, các dấu hiệu cấu thành tội phạm gồm: hành vi trốn đóng kéo dài từ 06 tháng trở lên, số tiền lớn và ảnh hưởng đến nhiều người lao động – đều đã hiện hữu trong vụ việc này. Nếu cơ quan chức năng xác định có yếu tố “cố ý không đóng dù có khả năng đóng”, thì việc khởi tố là hoàn toàn có cơ sở.
Từ góc độ thực thi pháp luật, điểm mấu chốt hiện nay không nằm ở việc “có vi phạm hay không”, mà là có kiên quyết xử lý đến cùng hay không. Thực tiễn cho thấy, nhiều doanh nghiệp lợi dụng khoảng trống trong khâu cưỡng chế và tâm lý “ưu tiên xử lý hành chính” để kéo dài nghĩa vụ, thậm chí né tránh trách nhiệm.
Do đó, trong vụ việc này, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp pháp lý sau:
Thứ nhất, cơ quan BHXH cần sớm hoàn tất hồ sơ vi phạm, xác định rõ số tiền, thời gian và số lượng người lao động bị ảnh hưởng, làm cơ sở chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra theo đúng quy trình tại Văn bản 5659/BCA-CSKT.
Thứ hai, áp dụng đầy đủ các biện pháp cưỡng chế theo quy định, bao gồm: phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, buộc truy nộp và tính lãi chậm đóng, thay vì chỉ dừng lại ở việc đôn đốc, nhắc nhở.
Thứ ba, trong trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cần kiên quyết khởi tố để xử lý hình sự, qua đó tạo tính răn đe thực chất, tránh tiền lệ “nợ bảo hiểm kéo dài nhưng không bị xử lý đến cùng”.
Thứ tư, về phía người lao động, hoàn toàn có quyền khởi kiện dân sự để yêu cầu doanh nghiệp bồi thường thiệt hại phát sinh do việc không được hưởng chế độ bảo hiểm, đồng thời có thể gửi đơn tố giác đến cơ quan điều tra nếu nhận thấy có dấu hiệu tội phạm.
Có thể thấy, vụ việc này không chỉ là câu chuyện của một doanh nghiệp cụ thể, mà phản ánh một vấn đề lớn trong thực tiễn thi hành pháp luật về bảo hiểm hiện nay. Nếu không xử lý dứt điểm, kịp thời và nghiêm minh, sẽ tạo ra tiền lệ xấu, làm suy giảm niềm tin của người lao động vào hệ thống an sinh xã hội.
Việc chuyển hóa từ “xử lý hành chính” sang “truy cứu trách nhiệm hình sự” trong những trường hợp đủ điều kiện không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà còn là đòi hỏi tất yếu để bảo vệ kỷ cương pháp luật và công bằng xã hội.
Mới đây, Bộ Công an đã ban hành Văn bản số 5659/BCA-CSKT gửi Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết về hồ sơ, thủ tục kiến nghị khởi tố các hành vi gian lận, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN nhằm tháo gỡ các vướng mắc và nâng cao hiệu quả xử lý hình sự đối với những vi phạm kéo dài.
Bộ Công an lần đầu hệ thống hóa đầy đủ quy trình phối hợp giữa cơ quan BHXH và cơ quan điều tra trong việc xử lý các tội danh liên quan đến BHXH, BHYT, BHTN theo các Điều 214, 215 và 216 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Hướng dẫn này được ban hành trong bối cảnh nhiều vụ việc trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN diễn ra trong thời gian dài, gây thiệt hại lớn cho người lao động nhưng gặp khó khăn khi chuyển từ xử lý hành chính sang xử lý hình sự.
Theo Bộ Công an, đối với tội "Trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN" cho người lao động (Điều 216 BLHS), việc xem xét trách nhiệm hình sự phải đáp ứng đồng thời các điều kiện chặt chẽ về thời gian và mức độ vi phạm. Hành vi trốn đóng phải kéo dài từ 06 tháng trở lên và thỏa mãn một trong hai dấu hiệu: Số tiền trốn đóng từ 50 triệu đồng trở lên hoặc trốn đóng cho từ 10 người lao động trở lên. Ngưỡng này được áp dụng đối với các hành vi xảy ra từ ngày 01/01/2018, thời điểm Điều 216 BLHS có hiệu lực thi hành.
Bộ Công an cũng hướng dẫn về thành phần hồ sơ kiến nghị khởi tố tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN. Theo đó, cơ quan BHXH khi lập hồ sơ cần bảo đảm đầy đủ cả căn cứ pháp lý lẫn chứng cứ thực tế. Hồ sơ bắt buộc có văn bản kiến nghị khởi tố vụ án của cơ quan BHXH; quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN. Quyết định xử phạt này là điều kiện tiên quyết, được lập đối với hành vi xảy ra từ ngày 01/01/2018 trở đi.
Kèm theo quyết định xử phạt là các tài liệu phục vụ xác minh vi phạm, gồm: Quyết định kiểm tra hoặc thanh tra; biên bản làm việc; tài liệu xác minh sự việc; biên bản vi phạm hành chính; kết luận thanh tra hoặc kiểm tra. Đây là căn cứ để chứng minh hành vi trốn đóng đã được phát hiện, xử lý theo trình tự hành chính nhưng vẫn tiếp diễn hoặc đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Bộ Công an yêu cầu hồ sơ phải có tài liệu chứng minh rõ hành vi trốn đóng kéo dài từ 6 tháng trở lên, đồng thời làm rõ số tiền hoặc số người lao động bị ảnh hưởng. Các tài liệu này bao gồm danh sách người lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; danh sách người lao động thuộc diện bắt buộc phải tham gia nhưng chưa được đóng; thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT, BHTN của đơn vị sử dụng lao động; biên bản làm việc về việc đóng bảo hiểm cho người lao động.
Ngoài ra, hồ sơ có thể kèm theo đơn thư phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của cá nhân, tổ chức liên quan đến hành vi trốn đóng đã được kiểm tra, xác minh theo quy định; cùng với biên bản, kết luận kiểm tra và các chứng cứ khác nếu có.
Về hình thức, Bộ Công an nhấn mạnh các tài liệu trong hồ sơ phải là bản chính hoặc bản sao hợp pháp, hoặc bản chuyển đổi từ tài liệu, dữ liệu điện tử bảo đảm giá trị pháp lý. Khi gửi sang cơ quan công an, hồ sơ kèm theo có thể là bản photo nhưng phải được đóng dấu treo, giáp lai của BHXH tỉnh, thành phố hoặc tài liệu số hóa theo đúng quy định.
Thẩm quyền ký văn bản kiến nghị khởi tố thuộc về Giám đốc cơ quan BHXH. Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra cùng cấp, gồm: Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu và môi trường; Công an các tỉnh, thành phố. Trong quá trình điều tra, nếu cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung hồ sơ, tài liệu, cơ quan BHXH có trách nhiệm phối hợp, cung cấp đầy đủ và kịp thời.
Hướng dẫn Bộ Công an nhằm khắc phục tình trạng nhiều vụ trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN đủ dấu hiệu hình sự nhưng hồ sơ chưa chặt chẽ, dẫn đến việc xử lý kéo dài hoặc dừng lại ở mức xử phạt hành chính. Việc chuẩn hóa thành phần hồ sơ, làm rõ điều kiện khởi tố và cơ chế phối hợp sẽ giúp quá trình chuyển tiếp từ phát hiện vi phạm hành chính sang điều tra hình sự được thông suốt.
Đây cũng là cơ sở để tăng tính răn đe đối với các doanh nghiệp cố tình trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động. Đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN.
THỌ NGUYỄN

