Các điểm mới của Luật Thuế TNCN sửa đổi
Thứ nhất, “phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả” đã không còn được xem là thu nhập từ tiền lương, tiền công của NLĐ do thuộc trường hợp loại trừ[1]. Do đó, khoản này cũng không còn là căn cứ tính thuế TNCN của NLĐ, bất kể người này có cư trú tại Việt Nam hay không[2].
Thứ hai, NLĐ cư trú chỉ chịu thuế TNCN đối với các khoản “thu nhập khả dụng”. Cụ thể, Điều 11 Luật Thuế TNCN sửa đổi cho phép doanh nghiệp khấu trừ các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo khỏi thu nhập chịu thuế của NLĐ cư trú trước khi tính thuế TNCN.
Thứ ba, khoản thu nhập miễn thuế, giảm thuế của NLĐ được điều chỉnh theo hướng mở rộng hơn so với khung pháp lý cũ.
Nếu trước đây, chỉ phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ là được miễn thuế, thì quy định mới đã miễn thuế cho toàn bộ khoản tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ; tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép của NLĐ[3].
Điều 4 Luật Thuế TNCN (sửa đổi) đồng thời bổ sung các khoản thu nhập miễn thuế đáng lưu ý, bao gồm: (i) Thu nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; (ii) Thu nhập từ tiền lương, tiền công của chuyên gia nước ngoài làm việc tại chương trình, dự án tài trợ bằng nguồn vốn ODA không hoàn lại, chương trình, dự án phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam; (iii) Thu nhập sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của cá nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân, cá nhân là chủ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Thứ tư, NLĐ là nhân lực công nghiệp công nghệ số có thể được miễn thuế TNCN có thời hạn[4].
Thay vì chỉ được giảm 50% thuế TNCN theo Luật Thuế TNCN 2007,[5] nhân lực trong các ngành công nghệ số từ nay có thể là đối tượng được miễn thuế TNCN. Cụ thể, NLĐ là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao sẽ được miễn thuế TNCN trong vòng 05 năm đối với các khoản thu nhập từ: (i) dự án hoạt động công nghiệp công nghệ số trong khu công nghệ số tập trung, (ii) dự án nghiên cứu và phát triển, sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, chip bán dẫn, hệ thống trí tuệ nhân tạo, và (iii) các hoạt động đào tạo nhân lực công nghiệp công nghệ số.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 5 Luật Thuế TNCN sửa đổi quy định miễn thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công khi NLĐ thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển/ Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.
Thứ năm, biểu thuế luỹ tiến từng phần giảm từ 7 bậc xuống 5 bậc. Điều 9 Luật Thuế TNCN sửa đổi nới rộng khoảng cách giữa các bậc và điều chỉnh lại hai mức thuế suất trung gian. Trong đó, thuế suất 15% ở bậc 2 được giảm xuống 10%, thuế suất 25% ở bậc 3 được giảm xuống còn 20%. Đồng thời, Luật điều chỉnh mức thu nhập tính thuế TNCN ở từng bậc theo hướng giảm so với quy định hiện hành. Đơn cử mức thu nhập bắt đầu tính thuế TNCN 5% hiện nay là đến 5 triệu đồng/tháng (tức đến 60 triệu đồng/năm). Trong khi đó, mức thu nhập tính thuế TNCN mới nhất là đến 10 triệu đồng/tháng (tức đến 120 triệu đồng/năm).
Biểu thuế luỹ tiến từng phần mới áp dụng cho NLĐ cư trú tại Việt Nam được điều chỉnh cụ thể như sau:

Ngoài ra, mức giảm trừ gia cảnh đã được điều chỉnh tương ứng với quy định tại Nghị quyết số 110/2025/UBTVQH15 ngày 17/10/2025 về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế TNCN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026. Cụ thể, Điều 10 Luật Thuế TNCN sửa đổi quy định mức giảm trừ đối với NLĐ là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm) và mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng. Với mức giảm trừ mới, NLĐ chỉ phải nộp thuế TNCN nếu thu nhập vượt quá 17,285 triệu đồng/tháng. Trường hợp NLĐ có một người phụ thuộc thì ngưỡng chịu thuế sẽ tăng lên 24,22 triệu đồng/tháng và với 02 người phụ thuộc ngưỡng chịu thuế là 31,155 triệu đồng/tháng.
Khác biệt của quy định áp dụng với NLĐ cư trú và NLĐ không cư trú
Luật Thuế TNCN sửa đổi có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, riêng các quy định liên quan đến thu nhập từ tiền lương, tiền công của NLĐ cư trú tại Việt Nam thì áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.[6] Như vậy, thu nhập từ tiền lương, tiền công của NLĐ không cư trú tại Việt Nam chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế TNCN sửa đổi từ ngày 01/7/2026. Nói cách khác, thu nhập và số thuế phải nộp trong quý I, quý II năm 2026 của NLĐ không cư trú vẫn được tính toán theo quy định cũ tại Luật Thuế TNCN 2007. Mặt khác, đối với NLĐ cư trú, doanh nghiệp áp dụng các quy định tại Luật Thuế TNCN sửa đổi để tính thuế, khai và nộp thuế phát sinh từ thu nhập mà doanh nghiệp trả cho NLĐ từ ngày 01/01/2026.
Để xác định đúng thu nhập tính thuế và số thuế phải nộp thay NLĐ
Trước những thay đổi tại Luật Thuế TNCN (sửa đổi), doanh nghiệp cần thực hiện rà soát toàn diện để cập nhật khoản thu nhập tính thuế của NLĐ và thực hiện việc khấu trừ thuế TNCN tương ứng. Việc này bao gồm loại trừ các khoản thu nhập miễn thuế, giảm thuế mà NLĐ được hưởng ra khỏi thu nhập tính thuế; ghi nhận mức thuế suất được áp dụng; và xác định mức giảm trừ gia cảnh của NLĐ theo quy định mới.
Dựa vào các căn cứ trên, doanh nghiệp được khuyến nghị thực hiện thống kê những NLĐ không còn phải nộp thuế TNCN hoặc được miễn nộp thuế có thời hạn để tiện theo dõi và điều chỉnh/ dừng việc khấu trừ thuế TNCN khi trả lương cho NLĐ. Qua quá trình rà soát, doanh nghiệp mới lập được chính xác bảng thanh toán tiền lương theo Mẫu số 01-LĐTL ban hành kèm theo Thông tư số 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 của Bộ Tài chính[7].
Trong trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng lao động quy định tiền lương, tiền công trả cho NLĐ không bao gồm thuế TNCN, thì doanh nghiệp phải quy đổi thu nhập không bao gồm thuế thành thu nhập tính thuế theo Phụ lục 02/PL-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính[8]. Theo đó, thu nhập làm căn cứ quy đổi phải được trừ các khoản mà NLĐ được giảm trừ. Cho nên, để quy đổi chính xác thì doanh nghiệp cũng cần rà soát và tuân thủ các quy định tại Luật Thuế TNCN sửa đổi.
Như vậy, tại thời điểm Luật Thuế TNCN sửa đổi được thông qua, doanh nghiệp đã cần có những động thái chuẩn bị cho việc khai, nộp và quyết toán thuế TNCN của NLĐ cho kỳ tính thuế năm 2026. Bên cạnh việc cập nhật các điều chỉnh của Luật này, doanh nghiệp cần phải rà soát lại toàn bộ hệ thống xác định thu nhập tính thuế và số thuế mà NLĐ phải nộp để kịp thời thực hiện tính thuế, kê khai và nộp thuế TNCN theo đúng quy định được áp dụng tại từng thời điểm.
[1] Điểm c khoản 2 Điều 3 Luật Thuế TNCN sửa đổi.
[2] Khoản 2 Điều 8 và Điều 21 Luật Thuế TNCN sửa đổi.
[3] Khoản 8 Điều 4 Luật Thuế TNCN sửa đổi.
[4] Khoản 2, 3 Điều 5 Luật Thuế TNCN sửa đổi.
[5] Khoản 3 Điều 5 Luật Thuế TNCN 2007.
[6] Điều 30 Luật Thuế TNCN (sửa đổi).
[7] Thông tư số 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026 và áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2026.
[8] Khoản 4 Điều 7 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.
NGUYỄN TƯỜNG AN CHI
Công ty Luật TNHH HM&P

