Theo Điều 1 dự thảo Nghị định, Bộ Y tế đề xuất nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng từ 500.000 đồng hiện tại lên mức 600.000 đồng.
Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định cũng nêu rõ, tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng bảo trợ xã hội, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho phù hợp; bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác.
Nếu đề xuất trên được thông qua, mức trợ cấp xã hội hằng tháng cao nhất mà người cao tuổi được nhận là 1.800.000 đồng/tháng (bằng 3 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội).

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Lý giải về việc điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ cấp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội tại Tờ trình dự thảo, Bộ Y tế cho biết, hiện nay mức chuẩn trợ cấp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội 500.000 đồng/tháng là mức thấp nhất trong hệ thống an sinh xã hội. Theo Bộ Y tế, nếu chỉ điều chỉnh tăng 8% (lên 540.000 đồng/tháng), mức trợ cấp này vẫn chưa đạt tới 25% chuẩn nghèo nông thôn và chưa đầy 20% chuẩn nghèo đô thị.
Do đó, để bảo đảm thực hiện lộ trình tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội trong mối tương quan với các chính sách xã hội khác, sự công bằng giữa các nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không để bỏ sót đối tượng; không ai bị bỏ lại phía sau, tại dự thảo Nghị định, Bộ Y tế đã đề xuất việc nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ cấp hưu trí xã hội từ 500.000 đồng/tháng lên 600.000 đồng/tháng (tăng 20%). Tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng bảo trợ xã hội, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho phù hợp; bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác.
Mức chuẩn 600.000 đồng/tháng giúp tỉ lệ đáp ứng chuẩn nghèo tăng lên đáng kể (đạt 27,3% chuẩn nghèo nông thôn và 21,4% chuẩn nghèo đô thị). Phương án này cụ thể hóa tinh thần Hiến pháp về quyền được bảo đảm an sinh xã hội, giúp đối tượng đủ khả năng chi trả các nhu cầu thiết yếu, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các nhóm chính sách an sinh.
Chính thức tăng 8% lương hưu và trợ cấp từ ngày 01/7/2026
Ngày 15/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2026/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng.
Cụ thể, Nghị định số 162/2026/NĐ-CP này điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng đối với các đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/7/2026, bao gồm:
Thứ nhất, cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg về việc chuyển bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện); quân nhân, Công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.
Thứ hai, cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Nghị định số 34/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng.
Thứ ba, người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg về việc trợ cấp cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 về việc trợ cấp hằng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206-CP ngày 30/5/1979 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với công nhân mới giải phóng làm nghề nặng nhọc, có hại sức khỏe nay già yếu phải thôi việc.
Thứ tư, cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 130-CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường.
Thứ năm, quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 22/2025/QĐ-TTg.
Thứ sáu, Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương.
Thứ bảy, quân nhân, Công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 22/2025/QĐ-TTg.
Thứ tám, người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.
Thứ chín, người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.
Theo đó, từ ngày 01/7/2026, sẽ điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026 đối với 9 đối tượng tại quy định nêu trên.
Còn các đối tượng quy định từ trường hợp thứ nhất đến trường hợp thứ bảy nêu trên nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/01/1995 (bao gồm những người đã nghỉ hưởng trợ cấp mất sức lao động trước ngày 01/01/1995, sau đó được tiếp tục hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 613/QĐ-TTg), sau khi thực hiện điều chỉnh 8% nếu mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng, người thụ hưởng sẽ được tăng thêm như sau:
- Tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng: Áp dụng cho những người có mức hưởng bằng hoặc thấp hơn 3,5 triệu đồng/người/tháng.
- Tăng lên bằng 3.800.000 đồng/người/tháng: Áp dụng cho người có mức hưởng từ trên 3,5 triệu đồng đến dưới 3,8 triệu đồng/người/tháng.
Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi điều chỉnh nêu trên là căn cứ để tính điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng ở những lần điều chỉnh tiếp theo.

