Công văn 2205/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ nêu rõ nội dung phản ánh, kiến nghị của người dân như sau:Đối với trường hợp người dân đã tự ý xây dựng nhà trên đất vườn, hay lấp đất ao để làm nhà từ những năm 1994. Trên sổ mục kê năm 1987 ghi rõ mảnh đất đó là đất ao, đất vườn, đến bản đồ địa chính năm 1998 được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt là đất ở, nhưng không bị xử phạt vi phạm hành chính. Đến bản đồ năm 2008, tiếp tục được ghi nhận là đất ở được phê duyệt bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không bị xử phạt vi phạm hành chính. Nay người dân đi làm sổ đỏ, kê khai việc tự ý chuyển mục đích từ đất ao, đất vườn lên làm đất ở năm 1994, vậy thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính từ năm 1998 (khi bản đồ địa chính được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt) hay được tính từ thời điểm người dân kê khai cấp sổ và gửi hồ sơ lên UBND cấp xã để làm sổ đỏ?
Giải đáp vấn đề này, Cục Quản lý đất đai cho biết theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ quy định:
"2. Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:
a) Đối với các hành vi vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều này là hành vi đã kết thúc thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm;
b) Đối với các hành vi vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này là hành vi đang thực hiện thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm".

Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.
Do đó, thời điểm để tính thời hiệu xử phạt đối với trường hợp này là thời điểm người dân đi làm sổ đỏ, kê khai việc tự ý chuyển mục đích từ đất ao, đất vườn lên làm đất ở đối với trường hợp cơ quan nhà nước phát hiện hành vi vi phạm và lập biên bản vi phạm hành chính.
Bên cạnh đó, tại Công văn 2205/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ, giải đáp về phản ánh không có căn cứ xác định khi nào được coi là cơ quan có thẩm quyền biết về việc vi phạm, Cục Quản lý đất đai cho biết, tại Mục 2 Chương II Luật Đất đai 2024 có quy định quản lý nhà nước về đất đai, trong đó cụ thể tại khoản 18 Điều 20 quy định về nội dung quản lý Nhà nước về đất đai như sau: “18. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai”.
Do đó, việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai là việc làm thường xuyên của công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Việc phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai sẽ thông qua việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi... của cơ quan, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền được phân công.
Khi phát hiện hành vi vi phạm thì người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ và đây cũng chính là căn cứ xác định thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.

