Cụ thể, về bồi thường đất khi không có hồ sơ chứng minh chi phí đầu tư, người sử dụng đất vẫn được áp dụng mức cố định: đất trồng lúa và cây hàng năm 50.000 đồng/m2; đất trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản 35.000 đồng/m2; đất rừng sản xuất từ 7.500–25.000 đồng/m2; một số trường hợp đất phi nông nghiệp là 35.000 đồng/m2.
Đối với tài sản trên đất, công trình không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật được bồi thường khoảng 60% giá trị; công trình bị cắt xén được bồi thường phần bị phá dỡ và chi phí ảnh hưởng, hoàn trả mặt tiền. Chi phí di chuyển tài sản được hỗ trợ 10–15 triệu đồng/hộ; di chuyển mồ mả được hỗ trợ theo đơn giá, trường hợp tự lo đất được hỗ trợ thêm 15 triệu đồng.
Trường hợp đất không bị thu hồi nhưng bị hạn chế khả năng sử dụng, người dân được bồi thường một lần bằng 80% giá đất.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Ngoài bồi thường, người bị thu hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ ổn định đời sống tương đương 30kg gạo/người/tháng trong 6–36 tháng; hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm phổ biến bằng 5 lần giá đất nông nghiệp đối với người trực tiếp sản xuất; trường hợp đặc thù từ 0,5–1 lần giá đất.
Người phải di dời chỗ ở được hỗ trợ tạm cư 2,5 triệu đồng/người/tháng hoặc 5 triệu đồng/hộ độc thân, tối đa không quá 15 triệu đồng/tháng. Diện tích đất nông nghiệp còn lại sử dụng trước 1/7/2014 nhưng không đủ điều kiện bồi thường được hỗ trợ 100% giá đất; đất phi nông nghiệp hỗ trợ 10%; đất vườn, ao tách khỏi thửa đất ở hỗ trợ 50%.
Đối với tài sản không hợp pháp hình thành trước 01/7/2014 trên đất đủ điều kiện bồi thường được hỗ trợ 50%; cây trồng, vật nuôi không thể di dời được hỗ trợ 50–80%.
Về tái định cư, tại khu vực phường, người dân được bố trí mua căn hộ chung cư hoặc giao đất nếu còn quỹ; tại xã, thực hiện giao đất ở tái định cư. Trường hợp nhiều hộ chung quyền sử dụng đất, mỗi hộ được mua 1 căn hộ hoặc giao 1 suất đất tái định cư.

